NGƯỜI GIỮ KHO TÀNG VĂN HOÁ CHĂM

Untitled-7 copy

NGƯỜI GIỮ KHO TÀNG VĂN HOÁ CHĂM

Một tuổi thơ cơ cực. Muốn thoát khỏi kiếp tôi đòi không có cách nào khác hơn là phải kiếm cho mình cái chữ, một cái nghề. Để rồi khi đã có tất cả bỗng dưng lại bỏ tất cả vì một đam mê như một linh tính mách bảo, như điềm báo trong những giấc mộng…. Tôi có dịp biết đến ông qua lời giới thiệu của dịch giả Nguyễn Thành Thống, người có nhiều năm nghiên cứu về văn bia Chăm:

– Sử văn Ngọc là chuyên gia số một, “kho” tài liệu cổ, từ điển sống về văn hóa Chăm. Ông có thể dịch từ tiếng Chăm qua tiếng Việt thành thơ bất cứ lúc nào hay có thể ngồi viết một mạch mà không cần tra cứu cả trăm câu tục ngữ, ca dao Chăm. Ông là người sưu tầm sách Chăm cổ (trên lá buông, giấy dó) và cả sử thi Raglai …. Trong khi nói chuyện ông thường dùng rất nhiều thành ngữ và tục ngữ Chăm. Đây là một trường hợp hiếm hoi! Người ta có thể hỏi ông bất cứ gì về văn hóa Chăm. Có thể nói không ngoa, ông là người “giữ” kho tàng văn hóa Chăm, bởi tất cả được lưu giữ hết trong đầu ông, chỉ cần “search” rồi “enter” ….

Và, tôi đã có một cuộc trò chuyện với nhà “Chăm học” nổi tiếng này trong một lần ông ghé Nha Trang.

Sử Văn Ngọc sinh năm 1941 tại làng Hữu Đức, xã Phước Hữu, Huyện Ninh Phước – Ninh Thuận (làng Hữu Đức được coi như là “kinh đô” của người Chăm – ở đây có đền thờ Pogagar). Xuất thân con nhà nghèo, cha mẹ là những người ở mướn. Ông có một cái tên cúng cơm khá… dị: Danao eù (có nghĩa là vũng cứt), bởi theo quan niệm người Chăm một đứa con kháu khỉnh phải đặt tên thật xấu để … hoá giải.

Năm 1946 một trận dịch tả làm chết nhiều người trong làng và ông là một trong những người mắc bệnh đầu tiên. Di chứng do bị mất nước để lại đến giờ là một con mắt bị hư. Khi ấy gia đình tưởng ông đã chết và khâm liệm đem đi mai táng. Lúc đi chôn một người bà con quá xúc động khóc to lên làm ông giật mình mở mắt ra. Cả nhà mới biết ông còn sống! Trên đường trở về làng, một ông chánh tổng người Việt, vốn là một thầy lể thấy điều kỳ dị ấy, bèn xuống ngựa lấy dụng cụ ra chích lể. Thấy máu còn tốt, ông biết là đứa bé sẽ sống, bèn đặt tên là: “thằng Ngọc” rồi dặn dò cha mẹ đứa bé: “Hãy nuôi nó sau này nó có thể làm nhiều việc”.

Thế nhưng, lớn lên do hoàn cảnh nhà quá nghèo, không có cơ hội đến với sách vở, ông lại tiếp tục nghề đi ở mướn của mẹ cha. Sử Văn Ngọc nhớ lại:

– Năm ấy tôi đi ở cho một gia đình có một cậu quý tử tên là Hán văn Hiến đang học lớp 3. Mỗi khi ăn cơm xong tôi lại lén lấy sách của cậu chủ ra xem. Một hôm bị cậu chủ bắt gặp. Cậu chủ nói: “Mày biết gì mà xem“ và lôi tôi ra đánh. Buồn quá tôi bỏ không chăn trâu nữa trở về nhà quyết tâm đi học. Điều thôi thúc buộc tôi phải đi học còn từ chuyện người cha của tôi có lần bị đánh tả tơi do dắt ngựa cho ông tổng bị trễ. Tôi tự hỏi và tự trả lời: “Tại sao người ta đánh mình? Vì mình không biết chữ! Phải biết chữ để không bị hiếp đáp. Gian khổ cách mấy cũng phải đi học”. Đó là năm 1954. Tôi học với người thầy đầu tiên là thầy Thiên Sanh Cảnh, một trí thức người Chăm nổi tiếng thời bấy giờ, người Chăm ở Phan Rang gọi ông là thầy (gru). Vừa học vừa làm mướn, tôi học xong cấp 1 và đậu tiểu học năm 1957. Lên cấp 2, một trận sốt rét khiến tôi bị rụng sạch tóc và không có tiền trả viện phí. Từ đó tôi tâm niệm phải học ngành y để sau này giúp người.

Với tâm niệm đó, tôi ra Huế học tá viên điều dưỡng ở Trung tâm huấn luyện điều dưỡng, hai năm (1965–1966). Ra trường tôi về làm việc ở Ninh Thuận và sau đó chuyển vào Cần Thơ. Ba năm sau về lại Ninh Thuận làm ở phòng Y tế An Phước. Tuy công việc làm ổn định, nhưng tôi có linh tính rằng đây không phải là nghề nghiệp mình gắn bó suốt đời. Điềm báo trong những giấc mộng luôn khiến tôi không an lòng với nghề y. Và, cái linh tính đó như một ngả rẽ định mệnh của cuộc đời.

Năm 1977 nhân một đêm đi nhóm họ, có một người nói với tôi: “Đời này lắm đá nhưng không có ngọc. Dân tộc Chăm lúa ít, cỏ nhiều”. Câu nói ấy của dân tộc Chăm như một tiếng chuông chùa vọng vào trí não, vỡ toang những trăn trở trong tiềm thức tôi bấy lâu nay. Về nhà, tôi mua một cuốn tập nhờ chép cả bài thơ 35 trang bằng tiếng Chăm, quyết tâm tự học. Lần mò trong 3 ngày với cuốn vần Chăm do Viện Ngôn ngữ mùa hè (Summer Institute) biên soạn có sự cộng tác của ông Thiên Sanh Cảnh, tôi đọc được hết bài thơ. Mới thấy mình hiểu về ngôn ngữ Chăm quá ít, phải đi tầm sư học đạo. Nhờ một người bạn của thầy Thiên Sanh Cảnh tên là Trượng An, tôi lần lượt đọc được những bài thơ về ngày tháng đến những bài thơ về thế sự; từ Ariya, Poh chatuai, Tơi lơi, Ambingu…. Đọc đến đâu nổi gai ốc đến đó, những giòng thơ như thấm vào máu thịt…. Và thế là, bỏ hết tất cả mọi công việc, tôi lao vào nghiên cứu tiếng Chăm

Khi tôi gặp thầy Thiên Sanh Cảnh, thấy bộ dạng lôi thôi của tôi, thầy hỏi: “Học tiếng Chăm để làm gì? Có phải làm thầy cúng không?”. Biết mục đích của tôi là muốn nghiên cứu tiếng Chăm, thầy mới chấp nhận cho làm học trò và cho tôi dịch truyện “Chay dalim bălăk” viết bằng chữ La tinh ( tiếng Việt có nghĩa là “Cậu Lựu tím”). Tôi dịch sang tiếng Chăm rồi dịch sang tiếng Việt. Khi thầy thấy bản dịch đạt yêu cầu, tôi quyết định xin nghỉ việc ở cơ quan để chuyên chú vào tiếng Chăm. Đây là một giai đoạn khá khó khăn trong cuộc đời tôi: một vợ, mười con, không công việc làm ổn định và suốt ngày chỉ biết…. nghiên cứu tiếng Chăm.

Năm 1978, Tiến sĩ Phan Lạc Tuyên khi đi điền dã ở Phan Rang đã đến ở lại nhà tôi. Tôi có cơ hội cộng tác với ông bằng những bài viết về phong tục của người Chăm, sau này in trong tập “Những vấn đề về dân tộc học Việt Nam” – Tập 2. Cũng trong năm đó, cơ hội cuộc đời mở ra với tôi, tôi được mời đi dự hội nghị về Dân tộc học tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh.

Với điệu bộ hóm hỉnh, Sử Văn Ngọc kể tiếp:

– Lần đó tôi đến hội nghị với bộ dạng lôi thôi chưa từng thấy (vì nghèo quá mà!). Người ta thì trịnh trọng veston, cà–vạt, còn mình thì áo bỏ ngoài quần, chân mang dép… Đã vậy còn được ngồi chung mâm với các VIP nữa chứ! Đến nỗi có nhiều đại biểu phải giật mình: “Hắn ta đến đây làm gì nhỉ?”. Khi tôi lên đọc tham luận, mọi người mới biết. Trong hội nghị có một người Nga đang học môn dân tộc học ở Liên Xô (cũ) đăng ký xin gặp tôi để tìm hiểu về những món ăn truyền thống của người Chăm. Và, tôi đã giới thiệu từ các món ăn dân dã đến những món chỉ dành trong các đại tiệc, lễ lạc. Từ món “mắm cái, cà cỏ” – là một loại cà mọc hoang giống như cà pháo nhưng da rất dai, để thưởng thức món này phải nhai kỹ, chậm rãi, đặc biệt loại cà này là một loại thuốc chữa giun sán; hay đến món thịt (dê, gà, trâu, heo) nướng hay luộc… chỉ dành để cúng ông bà tổ tiên…

Năm năm lao vào nghiên cứu tiếng Chăm, đói đến “xanh con mắt”, vợ con cằn nhằn… Tác phẩm đầu tay đánh dấu quá trình nghiên cứu chữ Chăm của Sử Văn Ngọc là bản thảo cuốn Từ điển Chăm – Việt có khoảng 10 nghìn từ; có cả thành ngữ, tục ngữ …

Năm 1993 Sử Văn Ngọc được giám đốc Sở Văn hóa thông tin Ninh Thuận là Hải Liên mời cộng tác làm các đề tài về Lễ hội Chăm. Từ những bài viết: “Lễ tế trâu ở núi Đá Trắng”, dài 28 trang, hay bài viết “Lễ tế thần thủy”…, năm 1994, ông được vào làm việc chính thức tại Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hoá Chăm – Ninh Thuận.

Sử Văn Ngọc nhớ lại:

– Hồi đó một tuần hai ngày, tôi đạp xe 15 km từ nhà đến cơ quan bằng chiếc xe đạp không thắng, phải xin con 200đ dằn túi. Tháng lương đầu tiên ghim chặt trong túi, một tay sờ túi (sợ bị mất) một tay nắm ghi – đông, đạp xe ra chợ mua liền 5 lít nước mắm vì trong suốt thời gian nghiên cứu chữ Chăm, nghèo đến nỗi không có tiền mua nước mắm ăn. Đó là lần đầu tiên tôi thấy giá trị của đồng tiền cho dù trước kia tôi có một cuộc sống đầy đủ và chẳng bao giờ phải lo đến chuyện tiền bạc.

Là hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, hội viên hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Trung ương … (hội viên của rất nhiều … hội), cộng tác viên của Viện Ngôn ngữ Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia … Sử Văn Ngọc đã tham gia, dịch sử thi Raglay, đọc tàng thư Chăm cổ, biên soạn nhiều tác phẩm về văn hóa Chăm như: “Các loại hình đám tang Bà La Môn”, “Đám hỏa táng ở Hữu Đức”, “Hệ thống thủy nông và lễ nghi nông nghiệp truyền thống của người Chăm”, “Lễ cầu đảo người Chăm”, “Truyện cổ dân gian Chăm”, “Đám ma người Chăm Bà La Môn ở Thuận Hải”, “Giới thiệu nhạc cụ truyền thống trong sinh hoạt tinh thần người Chăm”, “Lễ hội đầu năm của người Chăm”, “Lễ hội Ponai của cộng đồng người Chăm Ninh Thuận” …..

Ông là người thiết kế, thực hiện và viết thuyết minh về nhà truyền thống Chăm ở Bảo tàng Dân tộc học (Hà Nội). Ngoài chữ Chăm, công việc hiện nay của Sử Văn Ngọc là sưu tầm và dịch sử thi của người Raglai trong dự án “Sử thi Tây Nguyên” của Viện Văn Hóa Dân gian.

Theo Sử Văn Ngọc, từ Raglai trong tiếng Chăm có nghĩa là người rừng (Urang là người, lai là rừng). Tiếng Raglai và tiếng Chăm giống nhau đến 80%, tuy đó là hai ngôn ngữ khác nhau. Có thể nói tiếng Raglai là tiếng Chăm cổ. Có những từ Chăm ông không biết nghĩa phải tìm qua tiếng Raglai mới hiểu nghĩa. Hiện ông đã văn bản hóa và dịch xong 1200 trang về sử thi Tây Nguyên. Đây là một công việc khá công phu bởi ông phải đến các làng người Raglai, tìm những nghệ nhân còn hát sử sử thi được (những câu hát ê a rất khó nghe), ghi âm lại, về nhà văn bản hóa và dịch nghĩa.

Ông nói:

– Tôi đã làm xong được 32 băng cassette C 90. Còn 5 sử thi nữa chứa trong 42 băng đang chờ ….

Công việc qủa là bận rộn, thế nhưng đối với ông dường như đó chỉ là một cuộc chơi, là niềm đam mê và tất cả đều ở trong … đầu. Người Chăm có câu: “Làng đẹp bởi có cái nhà, người có hào quang bởi có cái chữ”, nhìn Sử Văn Ngọc trong vẻ giản dị và rất đỗi bình thường, khó ai có thể biết được ông là người “giàu có” bởi đang ông “giữ” kho tàng văn hóa Chăm.

Đào Thị Thanh Tuyền

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s