TỰ THUẬT 4

TỰ THUẬT 4

 

Có thể nói được là tôi xuất thân con nhà “võ biền”. Ông cố nội của tôi là người Đông Định, Phước Hậu, Tuy Phước, Bình Định. Ông có hơn mười mẫu đìa nuôi cá. Vào thời xa xưa đó làm nghề này thường phải có võ để bào vệ tài sản! Người Bình Định có võ là chuyện bình thường. Thế nên ở đây vấn đề võ nghệ cao thấp mới là chuyện quan trọng. Cứ theo lời kể của cha tôi thì ông nội tôi và các ông chú của cha tôi ít khi đi qua cổng để vào nhà mà thường nhảy phốc qua hàng rào để vào. Ông ngoại tôi cũng là một người võ nghệ cao cường cũng từ Bình Định vào sinh sống tại làng Hộ Diêm, Hộ Hải, Ninh Thuận. Cứ theo lời mẹ tôi kể, ông ngoại tôi một mình có thể đánh tan tác sáu người không có võ nhưng có vũ khí. Mẹ tôi là con một nhưng vì là “phận nữ nhi” nên chuyện võ nghệ không được học đến nơi đến chốn. Cha tôi tuy là cháu đích tôn và là con trai duy nhất của ông nội tôi nhưng từ nhỏ đã đi chủng viện thành ra không học được gì về võ nghệ. Thế nhưng hình như trong người tôi vẫn có cái “gène” di truyền kia nên tôi vẫn luôn thích “chuyện võ nghệ”. Trong gia đình người Công giáo Việt, thường thì người cha đi chủng viện nhưng không làm linh mục được thì con trai lại tiếp tục được đưa vào chủng viện. Nhưng tôi cũng chỉ “nửa đường đứt gánh” mà thôi. Việc cha tôi được học bốn năm ở Tiểu Chủng Viện Làng Sông Bình Định đã dẫn đến hậu quả là gia đình tôi không còn thuộc thành phần nông dân nữa tuy có sống ở nông thôn một thời gian. Và tôi đã được học ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Pháp, từ rất nhỏ.

Thật vậy, khi tôi bốn tuổi (1953) tôi đã hằng ngày theo cha đến lớp ngồi đó và nghe cha dạy tiếng Pháp cho các anh “Pháp con” tại trường tiểu học Domaine de Marie Dalat do các xơ Dòng Vincent de Paul điều khiển. Sau đó khi đến tuổi học tiểu học tôi lại được “thực thụ” học ở trường này. Tôi nhớ là tôi không được học tiếng Việt ở trường. Tôi chỉ học vần O I E A Ư Ơ U Ê Ô ở nhà và do cha tôi dạy. Ở trường tôi chỉ biết có tiếng Pháp. Tôi còn nhớ rất rõ những bài học thuộc lòng dài thòng bằng tiếng Pháp khi thầy giáo gọi hai người một lên đọc đua ai đọc xong về trước sẽ được điểm cao hơn. Lúc tôi bảy tuổi (1956), cha tôi đã mua cho một cuốn tự điển bỏ túi Pháp Việt của Đào văn Tập. Lần đầu tiên sở hữu một cuốn sách nhỏ xíu như thế tôi hạnh phúc vô cùng. Tôi thường bỏ trong túi mang theo bên mình. Tôi còn dùng dao lam tự xén cho nó nhỏ hơn nữa để bỏ vừa ở túi áo trên ngực. Tôi bắt đầu yêu sách vở từ đó. Năm sau cha tôi còn mua cho tôi một cây Stylo 303 bé tí nữa. Năm 1960 cha tôi lại mua cho tôi một cuốn Petit Larousse màu đỏ rất xinh. Báu vật này hiện tôi còn giữ. Đó là những vật dụng yêu thích lúc nhỏ tôi luôn mang theo bên mình. Thói quen mang theo sách bên mình để học ngày nay tôi vẫn còn giữ, có điều là hiện nay tôi không thể nào bỏ những cuốn sách yêu thích trong túi quần túi áo được nhưng phải bỏ trong ba lô mang trên vai. Mỗi lần tôi đi xa vợ tôi vẫn thường trách tôi “nặng nề với sách vỡ” là như vậy. Theo tôi, nên tranh thủ đọc sách. Hai vật tùy thân của tôi là cuốn sách và cây bút chì có đầu tẩy. Và đọc, nghĩa là học, bất cứ ở đâu. Có người nhận xét rằng người Việt mình ít đọc sách quá trong khi người nước ngoài lúc nào cũng có cuốn sách trên tay. Nhận xét này mới có từ những năm Việt Nam “mở cửa”; khi đông đảo khách du lịch nước ngoài vào đây. Thật ra thì sách mà “Tây” thường cầm đó đa phần là những cuốn Guidebook; cũng có một số mang theo tiểu thuyết để đọc. Điều tôi đặc biệt quan tâm ở đây là đọc gì thì đọc, đọc cần gắn liền với học. Đây là một hình thức tự học sơ đẳng và căn bản nhất. Ngày nay khi máy vi tính, nhất là laptop, thịnh hành đến độ phổ thông thì có người cho rằng ôi thôi rồi sách vỡ đã lỗi thời. Đương nhiên, kỹ nghệ thông tin mà cụ thể là  máy vi tính quả là một cuộc cách mạng chưa từng thấy, giúp con người làm việc, học tập hiệu quả và nhanh chóng gấp trăm gấp ngàn lần trước đây, nhưng thực tế thì sách vỡ vẫn phát triển mạnh, vẫn còn là một nhu cầu của con người thời đại và tôi thì vẫn còn cảm thấy rất thích thú khi cầm cuốn sách “cụ thể” trong tay; nhất là sau những giờ căng thẳng ngồi bên chiếc máy vi tính. Điều mà tôi sợ nhất có lẽ là sợ hại mắt. Nghe nói nhìn màn hình vi tính lâu, nhiều, hại mắt lắm. Ngoài ra, quả là có thể tìm, đọc nhiều thông tin, nhiều sách trên mạng, nhưng thực tế là những sách hiện tôi đang cần đọc để học tôi đều phải đặt mua từ bên ngoài, nghĩa là những cuốn sách cụ thể “giấy trắng mực đen”. Nên chi tôi không đồng ý chút nào với những ai cho rằng có máy vi tính, nhất là có laptop, thì dẹp sách vỡ. Có người cho rằng tôi bảo thủ. Thật ra chính xác phải nói là tôi  thủy chung. Trở lại chuyện học hành. Năm 1959 cha tôi về lại làng Cà Đú. Thế nên niên khóa 59-60 tôi tạm ngưng việc học tiếng Pháp. Tôi vào học lớp nhì, ngày nay gọi là lớp bốn, tại một trường làng, trường tiểu học Hộ Diêm, Hộ Hải, Ninh Thuận, cách Cà Đú quê tôi một cây số. Lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tôi được học tại một trường chương trình Việt. Nhưng những bài luận văn tiếng Việt của tôi vẫn vào hạng nhất lớp. Có lẽ được như vậy vì tôi đã tự học tiếng Việt qua việc đọc những sách tiếng Việt mà tôi tìm thấy trong tủ sách của cha tôi, nhất là bộ “Quốc Văn Giáo Khoa Thư”. Về sau tôi còn bổ túc tiếng Việt của mình bằng những truyện dịch của Hà Mai Anh. Và chỉ có thế vì bắt đầu từ năm 1960 đến năm 1969 tôi lại trở về với tiếng Pháp. Cũng may là trong khoảng thời gian đó, tuy học chương trình Pháp, tiếng Việt được xem là sinh ngữ hai, tôi và các bạn cùng lớp đã gặp được những giáo sư Việt văn luôn ý thức chúng tôi là người Việt nên đã “phá luật” dạy chúng tôi theo đúng chương trình Việt văn của những trường dạy chương trình Việt. Phần tôi, những bài luận Việt văn thường được các giáo sư khen, thậm chí còn được đưa sang đọc ở những lớp khác, nên tôi phấn khởi lắm. Và thế là tôi tiếp tục tự học tiếng Việt bằng đọc sách và tạp chí. Có một dịp khác nữa đã góp phần làm cho tiếng Việt của tôi khá hơn lên là các kỳ thi lấy bằng chương trình Việt. Tôi đã dự thi tất cả các bằng bên chương trình Việt: tiểu học, trung học đệ nhất cấp, tú tài một, tú tài hai. Muốn dự thi các kỳ thi đó tôi phải mua những sách giáo khoa của các lớp chương trình Việt và tranh thủ tự lên lịch và tự học tất cả. Có lẽ tôi thuộc dạng người hiếu kỳ hơn là hiếu học, nên tôi đã vượt qua một cách rất dễ dàng. Đúng là tôi học như chơi vậy. Tôi nhớ rất rõ tôi đã đọc toàn bộ các cuốn sách giáo khoa triết của lớp đệ nhất hoàn toàn trên võng với cuốn sách và bút chì trên tay trong vòng một tháng hè; cũng may trường của tôi cho nghỉ hè một tháng trước kỳ thi tú tài hai chương trình Việt. Và số thí sinh đậu bình thứ ban C kỳ thi Tú Tài hai năm 1968 tại Hội Đồng thi Nha Trang không vượt qua con số năm. Tôi hãnh diện nằm trong số đó. Khi lên đại học thì bạn bè lại xúi tôi học Việt Hán. Khi ra trường, ngoài những giờ dạy tiếng Anh ra, tôi còn được “chia” dạy Việt văn. Mà quả thực trước 1975 tôi thích dạy Việt văn hơn là Anh văn vì lúc ấy, và cả bây giờ, tôi vẫn luôn nghĩ rằng người Việt dạy Anh văn chẳng khác gì người Pháp, người Mỹ dạy Việt văn. Và  khi có dịp dạy Việt văn thì Việt văn của tôi càng khá hơn. Đúng là muốn khá về môn nào thì nên dạy về môn đó. Nghe ra thì mâu thuẫn nhưng sự thật là thế. Điều khó khăn trở ngại là mình có được dịp dạy môn đó hay không mà thôi. Ở trên, tôi có nói đến “trước 1975” vì sau 1975 tôi chỉ được phân công dạy văn ở lớp 10 và lớp 11 mà thôi, vì người ta bảo rằng tôi không thể dạy văn lớp 12 được vì chương trình văn học lớp 12 nặng về phần văn học cách mạng. Thế nên năm 1984 trưởng phòng tổ chức Sở Giáo Dục Khánh Hòa, sau khi trao đổi với tôi về việc không thể dạy văn lớp 12, đã chuyển tôi qua dạy Anh văn. Ông ta cho rằng như vậy hợp lý hơn. Phần tôi thì rơi vào tình trạng “tiến thoái lưỡng nan” vì tôi không thấy hứng thú gì khi dạy tiếng Anh vào lúc ấy, vì thú thật chương trình tiếng Anh cấp 3 lúc đó nó “làm sao ấy”. Cũng may sau đó “tôi mất dạy”! Tôi nói “cũng may” là vì suốt hai niên khoá (1984-1986) “mất dạy” tôi phải “bương chải” bằng cách hàng ngày đạp xe đạp từ Thành về Nha Trang, 10 cây số, để dạy kèm tiếng Anh. Và một bữa nọ, một ông bạn họa sĩ biết tôi “biết ngoại ngữ” có hỏi tôi có cuốn sách tiếng nước ngoài” nào viết về Paul Gauguin không. Tôi đã lấy cuốn tiểu thuyết “The Moon and Sixpence” của Somerset Maugham dịch sang tiếng Việt để ông bạn “đọc chơi”. “Đọc chơi” thôi vì  muốn thử sức mình có khả năng dịch một tác phẩm văn học có dính dáng đến hội họa để một họa sĩ đọc không. Nói là “chơi” nhưng làm thật vì tôi quen thói nghiêm túc và say mê. Vì thế trước khi dịch cuốn sách này tôi đã tìm đọc lại những tiểu thuyết và truyện ngắn của S.Maugham và cả những tài liệu tôi có về tác giả này. Trước 75 tôi đã từng đọc một số bản dịch tiếng Việt các tác phẩm của S.Maugham và tôi đã yêu thích ông từ độ đó cho nên chuyện dịch tác phẩm “The Moon and Sixpence” diễn ra không những suôn sẻ mà còn hứng thú nữa. Tôi không hiểu sao lúc ấy tôi lại hưng phấn như vậy. Có nhiều đêm tôi dịch một mạch được hơn mươi trang nguyên bản. Về sau có nhiều đọc giả cho tôi biết “Vầng trăng và đồng sáu xu” là bản dịch tuy là đầu tay nhưng được xem là thành công nhất của tôi. Chắc có lẽ được như thế vì khi dịch  tôi rất thoải mái không hề bị câu thúc hoặc lo lắng về bất cứ chuyện gì. Tôi không hề đặt vấn đề in ấn xuất bản, nhuận bút bản quyền hay sợ ai đó đang “chạy đua” ra sách trước tôi. Quả thật các dịch giả ngày nay luôn bị chi phối bởi những chuyện này. Thế rồi ông bạn họa sĩ đọc thấy hay đã tự động đưa sách in ở nhà xuất bản. Khi nhà xuất bản in xong ông bạn báo đến nhà xuất bản nhận. Khi cầm cuốn sách trong tay tôi mới ngỡ ngàng và khó chịu với cái tên sách “Vầng trăng và sáu xu”. Quả thật khi dịch tác phẩm này được một phần ba tôi mới hiểu ra thâm ý của tác giả. Một bên là nghệ thuật nó to nó đẹp như một vầng trăng một bên là  chuyện tầm thường trong cuộc đời nó nhỏ nó thường tình như một đồng sáu xu của Anh. Thế nên tôi đã dịch là “Vầng trăng và đồng sáu xu”. Một đối một. Nhưng bây giờ thì một đối sáu. Tuy là sáu xu, không phải ba xu, nhưng trông cuốn sách quả không có giá trị gì. Giám đốc Nhà Xuất Bản Phú Khánh lúc bấy giờ, về sau là Nhà Xuất Bản Khánh Hòa, cho biết vì nhà xuất bản không có biên tập viên sách dịch nên đã gửi bản thảo vào nhờ biên tập viên của Nhà Xuất Bản Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh. Và biên tập viên của nhà xuất bản này bảo rằng bên Anh không có đồng sáu xu (sixpence) chỉ có sáu xu (six pennies) mà thôi. Thế nên mới có cái tên sách như thế. Tôi phải khổ sở đạp về đạp đi hai mươi cây số để đem đến cho giám đốc xem cái hình đồng sáu xu (sixpence) in trong cuốn sách dạy tiếng Anh tôi học hồi còn nhỏ. Sự việc đã lỡ đành phải chịu thôi. Thế nhưng “trong cái xui lại có cái hên”. Giám đốc hỏi tôi có muốn làm biên tập viên sách dịch cho nhà xuất bản hay không. Thế là tôi trở thành biên tập viên sách dịch. Tôi đã trở thành người dịch sách kiêm luôn biên tập viên sách dịch. Một nghề nghiệp ngoài dự dịnh của tôi. Thật ra thì những năm học đại học tôi đã kiếm tiền bằng hai công việc: dạy kèm toán lý hóa và dịch thuê. Cho nên việc dịch không xa lạ gì với tôi. Nhưng lúc ấy tôi chỉ dịch những bài báo, chưa bao giờ dịch một tác phẩm văn học, và nay còn làm thêm một công việc tôi chưa từng học là biên tập sách dịch. Thế nhưng theo tôi, muốn giỏi về việc gì thì nên làm chính công việc đó. Dĩ nhiên sẽ là “vừa học vừa làm”, nhất là trong thời gian đầu. Và việc tự học vẫn là điều kiện tiên quyết. Một khi đã ngồi vào bàn của một biên tập viên sách dịch, công việc đầu tiên là sửa bài. Thật là nặng nề và to tát! Nghe ra cũng rất tự cao tự đại! Một biên tập viên sách dịch cần phải có kinh nghiệm về dịch thuật, nếu không muốn nói phải là người dịch  trước đã. Yêu cầu này xác định sự khác nhau giữa một biên tập viên sách dịch với những biên tập viên khác. Hiện nay có nhiều than phiền về các biên tập viên sách dịch ở các nhà xuất bản, theo tôi, chủ yếu vẫn do chuyện này. Cũng như người dịch, một biên tập viên sách dịch phải vững tiếng Việt, vững ngoại ngữ, và phải có kiến thức về lãnh vực viết trong cuốn sách mình biên tập. Thực tế thì các yêu cầu này ít được đáp ứng, vì thường thì người vững tiếng Việt lại không vững về ngoại ngữ, người vững về ngoại ngữ thì trình độ tiếng Việt không cao. Đa số các biên tập viên xuất thân từ những người học ngữ văn. Còn những sinh viên học ngoại ngữ thì có thì giờ đâu để luyện tiếng Việt. Đó là chưa nói đến kiến thức các lãnh vực chuyên môn. Vì thế những than phiền là chuyện thường ngày. Ngoài ra biên tập viên nói chung phải có hai đức tính là khiêm tốn và tự tin. Khiêm tốn để lắng nghe, tiếp thu và tự tin thể hiện bản sắc, lập trường. Tuy chỉ là một nhà xuất bản địa phương, nhưng tôi vẫn hân hạnh được biên tập những bản dịch của những “cây đa cây đề”, vì lúc bấy giờ nhu cầu hàng đầu là sách được xuất bản nên các vị dịch giả không nề hà gì chuyện địa phương hay trung ương. Lý tưởng như thế nên khó khăn vô cùng! Bởi vậy hiện nay người ta đã đơn giản hóa thành ra có nhiều than phiền. Khó khăn như thế chỉ có một cách khắc phục, đương nhiên là từ từ. Đó vẫn là tự học. Vì thực tế những người dạy về biên tập sách dịch không chừng chưa khi nào biên tập một cuốn sách dịch. Cũng như những vị dạy về dịch thuật không biết đã từng dịch một cuốn sách nào chưa. Đây là trường hợp thường thấy ở Việt Nam. Trong khoảng thời gian làm biên tập viên, sáu năm, tôi đã tự học hoàn toàn. Vì đó là một nghề tôi không hề được học ở đâu cả, và vì cũng không hề có dự định làm nghề này. Nhưng có điều chắc chắn là tiếng Việt của tôi đã khá hơn rất nhiều nhờ làm nghề biên tập sách dịch này. Bản thảo đầu tiên tôi biên tập là bản dịch cuốn “The Carpetbaggers” của Harold Robbins do Mạnh Hà và Thanh Sơn dịch với tựa đề “Người lữ hành kỳ dị”. Quả thực tựa đề sách này rất khó dịch sang tiếng Việt, dầu sao tôi không thích cái tựa đề này, nhưng là một đầu sách mà trưởng phòng biên tập của Nhà Xuất Bản chúng tôi đã cố công thuyết phục Nhà Xuất Bản Lao Động “chuyển nhượng” cho Nhà Xuất Bản Phú Khánh nhằm mở đầu cho một loạt sách dịch ở một Nhà Xuất Bản địa phương nên tôi không thể góp ý gì nhiều được. Đàng khác tuy tôi là người trực tiếp biên tập đầu sách này nhưng vì là người “mới vào nghề” nên  đứng tên biên tập vẫn là bút danh của trưởng phòng biên tập. Theo tôi hai dịch giả của bản dịch này đã nắm bắt được khá tốt nội dung cũng như tình tiết của cuốn tiểu thuyết, tuy vậy khi đối chiếu với bản gốc tiếng Anh tôi thấy rằng đây chỉ là  một dạng phóng dịch, một hình thức dịch thuật hiện đang phổ biến ở Việt Nam. Có nhiều quan niệm khác nhau về dịch thuật nhưng đại thể có hai khuynh hướng chính: phóng dịch và trực dịch. Có người chủ trương dịch là sáng tạo; bản dịch trở thành tác phẩm của chính người dịch. Có người lại cho rằng dịch là chuyển giao một thông điệp, cho nên khi dịch phải bám sát cấu trúc ngữ nghĩa, cấu trúc cú pháp, và ý nghĩa chính xác từ vựng nguyên bản. Ở đây bản dịch ngoài việc chuyển tải thật chính xác nội dung thông điệp vẫn mang dấu ấn, văn phong của tác giả nguyên bản. Có thể nói được rằng trực dịch, nôm na gọi là dịch sát, là chuyển ngữ. Nhiều người cho rằng bản trực dịch như thế sẽ nặng nề, sẽ ‘Tây”, sẽ “Tàu” hoặc gì gì đó chứ không phải bản văn của ngôn ngữ của người dịch. Họ có lý vì những bản trực dịch thường rơi vào tình trạng này. Tôi cho rằng những khó khăn này không phải là không thể vượt qua. Vấn đề căn bản là người dịch cần luôn chú ý đến đặc tính, bản sắc của ngôn ngữ dịch và ngôn ngữ được dịch. Ngoài ra bản dịch vẫn có thể là một sáng tạo của người dịch; vẫn mang dấu ấn người dịch. Dĩ nhiên bản trực dịch đạt trình độ nghệ thuật sẽ chứng minh cụ thể, rõ ràng nhất bản lĩnh và tài năng của người dịch. Ở Việt Nam hiện nay người ta thường đánh giá một bản dịch chỉ căn cứ trên bản dịch mà thôi; ít có điều kiện đối chiếu bản dịch với nguyên bản. Tôi đơn cử trường hợp dịch giả Phùng Khánh, tức Thích Nữ Trí Hải. Ni sư Trí Hải rất nổi tiếng với những bản dịch sách Phật học. Trong lời dẫn bản dịch cuốn “Thanh Tịnh Đạo” ni sư có viết: “Bản này khi in lại lần hai đã được rút gọn và sửa sai nhiều, bỏ bớt những chỗ trùng lắp, lối hành văn xưa, và thỉnh thoảng dùng một vài từ thời đại cho đỡ khô khan, nhưng bảo đảm không đi quá xa với nguyên bản. Không tin, quý vị thử so với bản Anh ngữ thì sẽ thấy.” (x. trg. IV, Thanh Tịnh Đạo, Nxb Tôn giáo, 2001). Tôi hơi bất ngờ về câu cuối cùng này. Và từ đó nảy sinh hiếu kỳ muốn xem xem tài nghệ của vị ni sư này. Tiếc là lúc bấy giờ tôi không có bản dịch tiếng Anh “The Path of Purification” tác phẩm nguyên bản tiếng Pali “Visuddhimagga” của Bhadantacariya Bhuddhaghosa do Bhikkhu Nànamoli dịch sang tiếng Anh. Tôi bèn nảy ra ý định tra cứu “đỡ” một bản dịch rất nổi tiếng khác, “Bắt trẻ đồng xanh”, do vị ni sư này dịch từ tác phẩm rất nổi tiếng “The Catcher in the Rye” của nhà văn Mỹ J.D. Salinger. Thì hỡi ôi có nhiều điều không được “cẩn trọng và chân xác” như lời của Thượng tọa Thích Minh Châu đã từng viết trong “Lời giới thiệu” bản dịch “Thanh tịnh đạo” (x. sđd. trg. III). Thế mà nhiều đọc giả Việt Nam đã từng tán thán bản dịch “Bắt trẻ đồng xanh”! Tôi vẫn biết các tác phẩm của Salinger, nhất là “The Catcher in the Rye”, quả là rất khó dịch. Nhiều người đã “chết” vì tác phẩm này, trong đó có Jean-Baptiste Rossi,   người dịch tác phẩm này sang tiếng Pháp với nhan đề “L’attrape-coeurs”. Ông này sau khi dịch cuốn sách đã bị nhà xuất bản cắt hợp đồng không cho dịch những tác phẩm khác của Salinger. Nhưng khó không có nghĩa là không thể. Đây không phải như trường hợp thơ Hồ Xuân Hương và tác phẩm “Finnegans Wake” của James Joyce; tôi cho rằng đây mới là những tác phẩm không thể nào dịch “chân xác” được. Điều tôi muốn nói ở đây là các đọc giả và cả các nhà phê bình Việt Nam khi đánh giá một bản dịch tiếng Việt thường không đối chiếu với tác phẩm nguyên bản. Trường hợp thứ hai là bản dịch “Thế giới của Sophie”, do Huỳnh Phan Anh dịch từ bản dịch tiếng Pháp “Le monde de Sophie” cuốn tiểu thuyết nguyên bản tiếng Na Uy “Sofies verden” của tác giả Jostein Gaarder. Đây là một tác phẩm rất nổi tiếng đồng thời cũng là sách bán chạy (bestseller) tiểu thuyết hóa cả một nền triết học Tây phương. Tôi rất hăm hở khi đọc bản dịch này vì đây là một cuốn tiểu thuyết đã được dịch sang nhiều thứ tiếng, có đến mười lăm mười sáu thứ tiếng và lần đầu tiên lại được dịch sang tiếng Việt. Đề tài lại lạ. Hơn nữa người dịch cũng có tiếng, lại nguyên là người dạy triết ở trung học. Tôi nghĩ và nhiều người cũng nghĩ như thế là “trúng tủ” rồi. Tôi chỉ đọc bản dịch tiếng Việt thôi vì không có nguyên bản và những bản dịch các ngôn ngữ khác. Nhưng ngoài những lỗi morat (morasse), rất nhiều, nghe nói chính người dịch đã giành phần sửa bản in, tôi thấy có nhiều điều bất hợp lý trong câu chữ. Tôi sinh nghi ngờ. Tôi đoán ở những chỗ đó người dịch chưa hiểu hết câu chữ tiếng Pháp. Thế rồi tôi lại tìm được chính bản dịch tiếng Pháp “Le monde de Sophie”, do Hélène Hervieu và Martine Laffon    dịch từ bản gốc tiếng Na Uy. Tôi nghĩ mình đã có lý. Nhưng tôi vốn đa nghi nên lại đi tìm một bản dịch tiếng nước ngoài khác. Tôi đã tìm được một bản dịch tiếng Anh, “Sophie’s World”, do Paulette Moller dịch từ nguyên bản tiếng Na Uy. Tôi so sánh bản dịch tiếng Pháp với bản dịch tiếng Anh. Về sau tôi còn tìm được những bản dịch tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Thụy Điển và cả nguyên bản tiếng Na Uy. Bây giờ thì tôi tin là mình hoàn toàn có lý: người dịch không phải là người “rành” tiếng Pháp lắm đâu. Nghe ra thì lạ tai, phản cảm và dễ gây mất lòng. Nhưng sự thật là thế. Vì vậy nghe đồn vẫn là tin đồn, cần phải kiểm tra lại; đừng vội tin. Những gì tôi muốn nhấn mạnh ở đây là: Tôi vốn không tin tưởng lắm ở những bản dịch không từ nguyên bản. Và phương pháp học dịch của tôi, một phương pháp hoàn toàn tự học và riêng tư, là so sánh các bản dịch nhiều ngôn ngữ khác nhau. Công việc chính của tôi là dịch thuật. Nhưng tôi vốn thích nguyên bản hơn; dịch thuật chẳng qua là chuyện cực chẳng đã. Và để học tập về dịch thuật tôi lại thường tìm kiếm và so sánh các bản dịch khác nhau. Ngoài ra dịch đối với tôi là trực dịch, nôm na gọi là dịch sát, tiếng Anh gọi là Literary Translation. Tôi không cho rằng phóng dịch là hình thức thích hợp cho dịch thuật văn học. “The Carpetbaggers” là tác phẩm nổi tiếng nhất, theo tôi cũng là hay nhất, của Harold Robbins. Tác giả này thường được xếp vào hàng những nhà viết tiểu thuyết giải trí, không được đánh giá cao về văn học nghệ thuật. Nhưng theo tôi, đây là một cuốn sách tuyệt vời. Tôi luôn xếp nó ngang hàng với cuốn “Exodus” của Leon Uris. Đây là hai cuốn tiểu thuyết “đời thường” tôi rất yêu thích và luôn được đặt ở vị trí đặc biệt trên kệ sách của tôi. Tôi không nói “The Carpetbaggers” là một tác phẩm văn học tuyệt vời nhưng là một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời. Có lẽ nhiều đọc giả cũng đồng ý với tôi cho nên cuốn tôi có trong tay in năm 1971 mà đã là ấn phẩm lần thứ 69. Sự tuyệt vời ở bố cục diễn biến tình tiết câu chuyện và ở kiến thức bách khoa của tác giả. Chúng ta không tìm thấy ở đây những gì bóng bẩy mượt mà nhưng là những ngôn từ sống thực, đời thường, nhưng đặc thù của từng giới. Câu chuyện thì lôi cuốn hấp dẫn khiến người đọc cứ đọc đọc mãi không dứt ra được. Chính vì sự hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết này nên tôi đã mua “dự trữ” coi như toàn bộ các tiểu thuyết của Harold Robbins. Nhưng tôi đã bị “hớ”, vì theo tôi chỉ cuốn “The Catpetbaggers” là xuất sắc, ở các cuốn tiểu thuyết khác Harold Robbins đã sa đà vào chuyện tính dục! Có lẽ vì điều này nên các nhà phê bình văn học không đánh giá cao các tiểu thuyết của tác giả này. Có điều thuận lợi là tôi đã sở hữu từ trước một nguyên bản cuốn tiểu thuyết “The Carpetbaggers” và đã đọc hai lần rồi cho nên khi biên tập tôi có cái hứng thú xem xem người dịch đã “làm ăn” như thế nào. Và tiến trình công việc biên tập đầu tay này diễn ra hoàn toàn tự biên tự diễn vì tôi đã được học để làm công việc này đâu. Tôi bỏ qua công đoạn đọc nguyên bản vì đã đọc hai lần rồi. Tôi đọc thẳng bản dịch ngay. Vì là một bản phóng dịch cho nên tôi chỉ đọc từng đoạn của bản dịch để xem có trục trặc chỗ nào không hoặc có sự bất hợp lý nào không. Tôi sẽ dừng lại để đối chiếu với nguyên bản ở những nơi tôi nghĩ là có sự cố. Và lấy quyền của biên tập viên tôi tự ý và tự tin sửa những chỗ có vấn đề đó, dĩ nhiên là phải theo văn phong không phải của tôi mà của người dịch. Đây là lúc thể hiện bản lĩnh của biên tập viên. Nhưng phải có bản lĩnh thì mới thể hiện được; làm thế nào có thể thể hiện những gì bản thân không có. Đàng khác đây cũng là lúc cho thấy tính chất “làm dâu trăm họ” và “nhập gia tùy tục” của người biên tập. Các biên tập viên ngày nay thường hay bị phàn nàn cũng vì hai yếu tố bản lĩnh và tính chất này. Bản dịch thứ hai tôi biên tập là “Nô lệ hay nữ hoàng” do Vũ Đình Phòng dịch từ cuốn tiểu thuyết tiếng Pháp “Esclave ou Reine” của Delly. Đây là một cuốn tiểu thuyết giải trí dành cho các bà. Delly là bút danh của hai chị em, Jeanne-Marie (1875-1946) và Frédéric Petitjean de la Rosière (1876-1949). Có đến 105 đầu sách mang tên tác giả Delly. Đây là những sách bán rất chạy vào những thập niên năm mươi, được dịch nhiều thứ tiếng và đã bán được hàng chục triệu bản. Theo chỗ tôi biết thì trước 75 chỉ mới có một bản dịch là “Chiếc áo màu thời gian”, nguyên bản là “Ma robe couleur du temps”. Sau 75 thì có được mươi bản dịch tiếng Việt, và “Nô lệ hay nữ hoàng” có lẽ là bản dịch tiếng Việt đầu tiên. Đây cũng là một đầu sách “chuyển nhượng” từ Nhà xuất bản Lao Động. Sở dĩ có những sự chuyển nhượng như thế này vì trưởng phòng biên tập Nhà Xuất Bản Phú Khánh vốn trước đó là người của Nhà Xuất Bản Lao Động. Sở dĩ tôi nói rõ về sách của Delly vì lúc đó sau khi đọc nguyên bản cuốn “Esclave ou Reine” này tôi biết ngay đây loại tiểu thuyết nên dịch ra hàng loạt để bán. Vì thế ngay sau đó tôi đi Sàigòn vào khu sách cũ ở đường Calmette mua khá đầy đủ sách nguyên bản tiếng Pháp của Delly, để dành “làm ăn”. Về bản dịch “Nô lệ hay nữ hoàng” của Vũ Đình Phòng, tôi nhận thấy người dịch không nắm vững những thuật ngữ nhà đạo Công giáo, chưa phân biệt được giữa linh mục và mục sư. Tôi đã chỉnh sửa tất cả những sai sót này. Tuy tác giả Delly chưa thể gọi được là nhà văn Công giáo, nhưng câu chuyện được miêu tả ở các tiểu thuyết của Delly phần lớn là chuyện của một nhân vật người Công giáo. Chắc không cần nhắc lại những thuật ngữ nhà đạo của người Công giáo khác với những thuật ngữ của người Tin Lành, nói chi đến những thuật ngữ của tín đồ của các tôn giáo khác. Ngoài điểm đặc biệt các sách của Công giáo có ghi Nihil obstat (Không có gì ngăn trở) và Imprimatur (Được phép in) chúng ta vẫn có thể nhận ra đâu là sách của người Công giáo đâu là sách của người Tin Lành, nếu chúng ta biết rõ các thuật ngữ thường dùng của tín hữu, tín đồ của hai tôn giáo này. Chính vì những dị biệt và đặc thù này tôi chưa bao giờ có dự định dịch một cuốn sách về Phật học khi chưa nắm bắt được các thuật ngữ của người theo Đạo Phật. Tuy đã có dịp đọc nhiều các sách Phật học bằng tiếng Anh nhưng tôi vẫn thường đọc đi đọc lại cuốn “Phật pháp” (Chương trình của Gia Đình Phật Tử. Do Ban Đại Chứng Minh Tổng Hội Phật giáo Việt Nam chứng minh. Thích Minh Châu, Thích Thiện An, Thích Đức Tâm, Thích Chân Trí biên tập. Tổng Hội Phật giáo duyệt y và xuất bản năm 1962.) để học ngôn ngữ nhà Phật. Ngoài ra tôi còn đọc đối chiếu cuốn “Các tông phái của Đạo Phật” (do Tuệ Sỹ dịch, gần đây đã được chỉnh sữa và có tựa đề mới là “Tinh Hoa của Phật giáo”) với bản tiếng Anh “The Essentials of Buddhism Philosophy” của Junjiro Takakusu để mong “thấm nhuần” phần nào ngôn ngữ Phật học. Gần đây có nhiều Từ Điển, Tự Điển Phật Học, Phật giáo, được xuất bản đã giúp ích rất nhiều cho việc học của tôi. Sở dĩ tôi đã dài dòng về những việc này là muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các thuật ngữ đặc thù, chuyên môn, chuyên ngành mà người biên tập cũng như người dịch phải đặc biệt lưu ý, bằng không những bản biên tập, những bản dịch sẽ “lật tẩy” cho thấy sự dốt nát của các đương sự. Đây cũng là dịp cho thấy tay nghề, bản lĩnh của người biên tập, của người dịch. Sau cuốn “Nô lệ hay nữ hoàng” tôi có cho cộng tác viên dịch và xuất bản hai cuốn khác là “Bước gian truân” (Sous l’oeil des Brahmes) và “Mắt em màu xanh” (Hoelle aux yeux pers). Ngoài Delly, ở Pháp còn hai tác giả sách giải trí khác cũng được đọc rất nhiều ở những thập niên năm mươi sáu mươi là Magali và Max du Veuzit. Tôi cũng đã mua để dự trữ rất nhiều sách của hai tác giả này. Thế rồi vì “vật đổi sao dời” và vì bận nhiều việc khác nữa tôi không tiếp tục cho dịch những cuốn khác của các tác giả này nữa. Và hiện nay số sách của Delly, Magali, Max du Veuzit và Harold Robbins đó phải chịu nằm “trơ gan” trên kệ kho sách cũ nhà tôi. Bản dịch thứ ba tôi biên tập là một bản dịch cuốn “Le fils de la baleine” của tác giả Cung Giũ Nguyên. Nhưng vì bản dịch này “quá tệ” thành ra thay vì biên tập tôi đã phải đích thân dịch tác phẩm này. Một chuyện thật tình cờ. Đó là bản dịch của ông Cung Giũ Hốt, còn có tên là Nguyễn văn Hùng, một người em của học giả Cung Giũ Nguyên. Ngày ấy tôi có nghe tiếng Thầy Cung Giũ Nguyên, nhưng chưa từng gặp mặt. Tôi biết thầy là một huynh trưởng Hướng Đạo kỳ cựu, một nhà báo lâu năm và nhất là một nhà văn người Việt viết tiếng Pháp và nghe nói có cuốn tiểu thuyết gì đó “sém” được giải Goncourt của Pháp, vì thế tôi rất hứng thú khi cầm bản thảo bản dịch cuốn “Le fils de la Baleine” của thầy trong tay. Tôi đã đọc hơn mươi trang bản dịch và cảm thấy nó “sao sao ấy”. Ngày ấy những người dịch không có thói quen gửi đến nhà xuất bản bản dịch kèm với nguyên bản, một phần có lẽ vì sợ mất bản gốc một phần vì nghĩ rằng các biên tập viên không đọc được “tiếng Tây tiếng U”; hơn nữa đó lại là biên tập viên của một nhà xuất bản địa phương. Tôi nói “ngày ấy” vì cũng có đến hơn hai mươi năm rồi. Ngày nay thì có thể biên tập viên đọc được nguyên bản, tôi chỉ nói là “có thể” thôi, nhưng thường không có đủ thì giờ vì mắc “chạy đua” nên chi hãy còn nhiều chuyện than phiền. Tôi đã yêu cầu người dịch cho xem nguyên bản tiếng Pháp. Tôi đã tập trung đọc “tốc hành” 220 trang tiếng Pháp trong hai ngày, nghĩa là vẫn có thì giờ thưởng thức. Tôi khám phá thấy đó là một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời. Nhà văn học giả người Pháp nổi tiếng Daniel-Rops đã từng khen tác phẩm đây như thế này: “Un roman au gout savoureux écrit dans une langue pure, élégante, qui se refuse aux effets faciles mais est pleine des subtiles résonances… Un mélange de réalisme paysan et de rêve. Avec tout le temps, sous-jacente, cette ironie légère et tendre faite de beaucoup de sagesse et aussi de sympathie humaine… Qu’un Cung Giu Nguyên puisse rivaliser un Pourrat, un Ramuz, un Giono…, voilà qui est nouveau…” Tôi đọc lại bản dịch. Quả là quá tệ. Không tương xứng. Tôi đã yêu cầu người dịch dịch lại.  Người dịch không đồng ý. Thế rồi một tuần sau tôi có dịp đến nhà Thầy Cung Giũ Nguyên. Thầy đã đặt tôi vào tình trạng “tiến thoái lưỡng nan”. Tôi đã chê người khác thì tôi phải làm được chứ. Thế rồi tôi lại phải dịch “tốc hành” cuốn sách ấy đúng một tháng trong điều kiện khó khăn vật chất, đèn điện nhá nhem, và tinh thần, phải “chạy đua”. Thế nhưng tôi vẫn giữ đúng phương pháp dịch của tôi, nghĩa là dịch sát, bám sát văn phong của tác giả và bảo đảm về phần tiếng Việt. Nhưng ở đây thú thật tôi có phá lệ phần nào khi dịch tên tác phẩm. Tôi dịch là “Kẻ thừa tự của Ông Nam Hải” thay vì “Người con trai của Cá Ông”.Trong tác phẩm của mình Thầy Cung Giũ Nguyên chỉ phóng dịch phiên phiến những câu ca dao miền trung và những đoạn của Bài ca Bả trạo, còn tôi thì đã phục nguyên hoàn toàn. Thách thức lớn nhất lúc ấy là tác giả vẫn ở đó, khác với trường hợp khi dịch các tác phẩm nước ngoài không phải đối mặt với chính tác giả. Ngay trang đầu bản thảo dịch của tôi Thầy Cung Giũ Nguyên đã viết như thế này: “Cám ơn anh Nguyễn Thành Thống đã chịu khó đọc lại một tác phẩm hình như đã mờ trong dĩ vãng. Nha Trang 15-1-1990.” Câu này đã làm tôi an lòng. Rồi sau đó vào ngày 15-2-1996 khi gửi cho tôi một bản photo bản dịch tiếng Đức “Der Sohn des Waltishs” của dịch giả người Đức S.Stahlmann, thầy đã đề như thế này: “Mến tặng Nguyễn Thành Thống và cám ơn về bản dịch tiếng Việt Kẻ thừa tự của Ông Nam Hải.” Để rồi vào ngày 3-8-1998 khi gửi cho tôi cuốn “Câu chuyện ngành Tráng” thầy lại ghi: “Mến gửi Nguyễn Thành Thống người có công dịch Le Fils de la Baleine và nhờ đó đã giúp cho Kẻ Thừa Tự Ông Nam Hải (Mỗ) sau mấy mươi năm lưu lạc ở Pháp và Canada đã trở về được quê hương.” Đây cũng là bản dịch thứ ba trong “nghề nghiệp dịch thuật” của tôi vì bản dịch thứ hai sau bản dịch “Vầng trăng và đồng sáu xu” là bản dịch “Bay quanh mặt trăng”, tác phẩm tiếng Pháp “Autour de la lune” của Jules Verne. Một sự tình cờ khá thú vị là hai bản dịch đầu tiên của tôi đều có từ TRĂNG cả! Sở dĩ tôi dịch cuốn “Autour de la Lune” là vì hai lý do. Có thể nói Jules Verne là cha đẻ của tiểu thuyết viễn tưởng. Từ trước cho đến nay tác giả này vẫn luôn thu hút người đọc. Ở Việt Nam vào những năm 80 các dịch giả chú ý đặc biệt đến hiện tượng này. Tôi cũng là người hâm mộ J.Verne. Hơn nữa vốn mê thiên văn học nên tôi chọn ngay cuốn “Autour de la Lune” để dịch. Thật ra trước cuốn này có cuốn “De la terre à la Lune” nhưng tôi dịch cuốn “Autour de la Lune” trước vì thích cuốn này hơn và vì câu chuyện có vẻ gần giống với thực tế khoa học hiện đại hơn. Sau đó tôi có dịch cuốn “De la Terre à la Lune” nhưng khi sắp sửa đưa đi sắp chữ thì đã thấy xuất hiện trên thị trường một bản dịch khác rồi. Thành ra bản dịch của tôi “đành lỗi hẹn”! Vì là biên tập viên sách dịch cho nên bản dịch của tôi phải do một biên tập viên khác biên tập. Không lẻ vừa đá bóng vừa thổi còi. Nhưng người biên tập đồng nghiệp lại không đọc được tiếng Pháp thành ra phải nhờ đến một cộng tác viên. Thú vị là vị cộng tác viên này lại chính là Thầy Cung Giũ Nguyên. Vì thế ở trang bìa 3 của cuốn sách có ghi là “Bản dịch: Nguyễn Thành Thống. Người hiệu đính: Cung Giũ Nguyên”. Thật là một vinh dự bất ngờ. Chuyện này thầy Cung Giũ Nguyên không hề hay biết vì mãi mãi về sau này khi tôi biếu thầy một bản “Bay quanh mặt trăng” để làm kỷ niệm thì thầy rất ngạc nhiên, thậm chí lúc ấy thầy mới nhận ra “Lời giới thiệu” của cuốn sách ấy chính do thầy viết, tuy ghi là Nhà Xuất Bản Tổng Hợp Phú Khánh. Có điều tôi lấy làm tiếc là tuy cuốn sách in 25.200 bản mà Nhà Xuất Bản lại quên không biếu cho thầy một bản nào. Chính vì thế nếu xem lại toàn bộ những gì Thầy Cung Giũ Nguyên viết chúng ta không thấy thầy đề cập gì đến chuyện hiệu đính cũng như “Lời giới thiệu” này. Có thể nói thời gian tôi làm biên tập viên sách dịch ở Nhà Xuất Bản Khánh Hòa (1986-1992) là “cao trào” của tiểu thuyết dịch ở Việt Nam. Cho nên ngoài việc biên tập ra, tôi cũng tranh thủ dịch vừa để in ở Nhà Xuất Bản của chúng tôi vừa để gửi in ở những Nhà Xuất Bản khác. Vì số lượng tiểu thuyết cần dịch khá nhiều và vì phải “chạy đua” với nhiều người dịch khác cho nên tôi phải huy động đến nhiều cộng tác viên. Và cũng như bao nhiêu người khác tôi đặc biệt chú ý đến những tác giả có sách bán chạy (bestseller) lúc ấy như Danielle Steel, Janet Dailey, Jackie Collins, Sidney Sheldon, Stephen King, Harold Robbins…Tôi có mua dự trữ sách của các tác giả này và cho các cộng tác viên tiến hành dịch, nhưng quả thật tôi không còn thì giờ chăm chút đến chất lượng dịch vì phải “chạy đua”. Tuy nhiên tôi bắt đầu chú ý đến các tác giả đoạt giải Nobel, Pulitzer, Booker, National Book Award, National Book Critic… Đa phần là các tiểu thuyết tiếng Anh. Tôi có theo dõi các tác giả đoạt giải Goncourt của Pháp nhưng không mặn mà lắm vì đang là thời thống trị của tiếng Anh. Riêng tư, tôi rất quan tâm đến các tiểu thuyết thuộc văn học Anh Mỹ, cả cổ điển lẫn hiện đại. Tôi đặc biệt chú trọng đến những tác giả mà tôi cho là những cột mốc trong văn học tiểu thuyết Anh Mỹ cận đại như Henry James, Thomas Hardy, Joseph Conrad, D.H.Lawrence, Virginia Woolf, James Joyce… Tôi đã dịch cuốn Tess of d’Urbervilles của Thomas Hardy và lấy tựa đề là  “Người phụ nữ trinh trắng” và nhận thấy giữa Thomas Hardy của Anh và Nguyễn Du của Việt Nam có nhiều điểm tương đồng. Nhưng lạ lùng là bản dịch này của tôi cứ “trầy trật” mãi đến nay vẫn chưa in được. Tôi cũng rất quan tâm đến hai tác giả tiểu thuyết Nhật là Yasunari Kawabata (川端 康成) và Shusaku Endo (遠藤 周作). Tuy đã có nhiều bản dịch cuốn “Xứ tuyết” (雪国 Yukiguni) của Yasunari Kawabata, nhưng tôi vẫn dịch lại cuốn này theo kiểu của tôi. Và dịch rồi để đó chưa biết bao giờ in được. Đối với Shusaku Endo thì cuốn tôi thích nhất là “Trầm mặc” (沈黙, Chinmoku), học giả linh mục Dòng Tên nổi tiếng dịch đã dịch sang tiếng Anh với nhan đề là “Silence”. Nhưng hiện nay một đầu sách như thế không dễ tìm được đầu ra. Có hai cuốn tiểu thuyết mỏng tôi rất thích là cuốn “Platero y yo” của nhà văn Tây Ban Nha được giải Nobel văn học là Ruan Ramón Jiménez và cuốn “Jonathan Livingston Seagull” của Richard Bach. Tôi đã dịch xong cuốn sách thứ hai này lâu rồi với tựa đề là “Bài ca một cánh chim biển”. Trước 1975 có một bản dịch tiếng Việt mang tên “Chàng hải âu kỳ diệu”. Chắc người dịch muốn thi vị hóa tựa đề sách nên đã biến “Mòng biển” (Seagull) thành “Hải âu” (Albatros). Thật ra thì Mòng biển rất khác với Hải âu. Và trong cuốn tiểu thuyết vắn gọn rất thơ và triết lý này, tác giả muốn mượn câu chuyện cũng như đặc điểm của loại mòng biển không lấy gì thơ mộng, nghệ sĩ để đề cao một nhân sinh quan dấn thân lạc quan yêu đời. Đó là sống cho hay cho đẹp cho có nghệ thuật mới là điều quan trọng. Trong câu chuyện tác giả có đề cập và phân biệt rõ ràng ba loại chim biển là mòng biển (seagull), hải âu (albatross) và bồ nông (pelican). Bản dịch của tôi vẫn còn ở dạng “lưu hành nội bộ”. Gần đây sau một thời gian dài chìm nghỉm, các tác giả tiểu thuyết hiện đại được giải và bán chạy đã được dịch nhiều nhưng chất lượng theo tôi, nói theo ngôn ngữ hiện nay, vẫn chưa được “bền vững”. Tôi đã sưu tập khá đầy đủ các tiểu thuyết tiếng Anh được giải nhưng để đọc là chính, chưa định chuyển ngữ sang tiếng Việt vì vấn đề bản quyền và đầu ra. Ngoài ra tôi còn đặc biệt quan tâm đến các tác giả tiểu thuyết trẻ và thuộc nữ giới. Tôi có sưu tập khá đủ các tiểu thuyết được giải Orange, một giải thưởng mới xuất hiện gần đây (1996) dành phát hàng năm cho các tiểu thuyết của các tác giả nữ. Nhưng có thể nói lãnh vực văn học mà hiện nay tôi quan tâm nhất là Văn Học Du Ký (Travel Literature). Tôi vốn là người thích du lịch nhưng chưa có dịp đi nhiều nên thích đọc những tác phẩm du ký, vì ở đó sẽ có dịp học biết và thưởng thức những điều các nhà văn du ký trải nghiệm viết ra. Tôi vẫn cho rằng du lịch là một hình thức tự học. Từ năm 1992 đến nay công việc dịch thuật của tôi chú trọng nhiều hơn đến mảng sách nghiên cứu, chuyên khảo và  công cụ. Và nhiều đọc giả đã cho biết bản dịch cuốn “The Road Less Traveled” của M.Scott Peck là thành công nhất. Đây là cuốn sách bán chạy (bestseller) đã từng đứng trên danh mục sách bán chạy của tuần báo New York Times liên tiếp trong 598 tuần lễ. Phải nói là vô địch. Guinness the Book of Records đã xác nhận điều này. Bản dịch của tôi có tựa đề là “CON ĐƯỜNG CHẲNG MẤY AI ĐI”, nhưng công ty liên kết xuất bản đã sợ là “con đường chẳng mấy ai đi” thì “sách chẳng mấy ai mua” nên đã sửa lại là “HÀNH TRÌNH TRƯỞNG THÀNH ĐÍCH THỰC”. Tuy vậy vẫn không thoát khỏi tình trạng “sách chẳng mấy ai mua”! Thế mới biết Đông Tây khác nhau như thế nào!

Từ ngày bắt đầu dấn thân vào cái nghề không dự định cũng chẳng được đào tạo này, ngoài việc dịch thuật ra, tôi còn biên soạn được một số sách. Phải nói là  dịch thuật là một hình thức tự học rất tốt, vì khi dịch chúng ta có dịp tìm hiểu nội dung thông điệp tác giả trình bày trong  cuốn sách. Nghiền ngẫm như thế tức là học rồi. Nắm được nội dung rồi còn phải tìm cách làm thế nào đó diễn đạt cho người khác hiểu và tiếp thu thông điệp đó qua ngôn ngữ dịch nữa. Đó lại là học lần thứ hai. Nhưng biên soạn thực sự là một phương pháp tự học còn tốt gấp đôi dịch thuật. Vì khi biên soạn chúng ta sẽ phải chủ động hoàn toàn. Trong suốt tiến trình dài nhập liệu, tiêu hóa, suy nghĩ, sắp đặt, sáng tạo chúng ta phải luôn luôn chủ động học hỏi tiếp thu. Vì thế không lạ gì đã có nhiều người đúc kết kinh nghiệm đưa ra một kết luận xem ra mâu thuẫn nhưng rõ ràng là sự thật. Muốn thông suốt một đề tài, một vấn đề gì thì nên viết sách về đề tài, vấn đề đó. Ý thức về việc này, đồng thời cũng vì nhu cầu, song song với dịch thuật tôi cũng biên soạn được một số sách. Ở đây chỉ nêu lên bốn cuốn sách làm tiêu hao nhiều năng lượng nhưng không phải là những cuốn sách “bán được”, nói chi đến “bán chạy”; tuy nhiên tôi đã tự học rất nhiều trong tiến trình “mang nặng đẻ đau” này. Cuốn sách thứ nhất có tựa đề: “Giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên” (xuất bản năm 1994). Đó là một cuốn sách xuất hiện vì nhu cầu. Nhu cầu có kiến thức để dạy dỗ con cái mình, từ đó có thể giúp những bậc phụ huynh khác dạy dỗ con cái của họ. Quả thực cái kiến thức này, ở Việt Nam, lúc đó không có ở đâu dạy cả. Phải tự học thôi. Khi viết cuốn sách này tôi đã dựa trên lập trường ba điểm: 1. Cha mẹ là người có thẩm quyền và điều kiện nhất để dạy con cái về giới tính. 2. Kiến thức về giới tính để dạy cho con cái không cần nhiều như hiểu biết của chuyên gia giáo dục, tâm lý hay y khoa, vậy đừng sợ. 3. Phải luôn luôn nói sự thật đúng nơi đúng lúc. “Để trở thành người phụ nữ duyên dáng” là cuốn thứ nhì. Sách cũng được xuất bản năm 1994 và cũng xuất phát từ nhu cầu, nhu cầu của chị em phụ nữ cần có kiến thức để làm cho mình duyên dáng hơn lên. Lập trường khi biên soạn cuốn sách này: chị em phụ nữ đừng bao giờ bắt chước các thần tượng, hãy tự tin, biết “sở trường sở đoản” của mình và khai triển “bản sắc”. Cuốn thứ ba, “Truyền thông, kỹ năng và phương tiện” (xuất bản năm1996), xuất xứ từ một giáo trình. Một đề tài rất mới, và chưa từng trở thành một môn học chính khóa ở Việt Nam. Kiến thức về truyền thông cần thiết cho mọi người mọi giới trong xã hội; thậm chí nhiều rạn nứt đỗ vỡ trong hôn nhân gia đình một phần là do thiếu kiến thức về truyền thông. Thế nhưng lúc ấy không có nơi nào, thầy nào, sách nào dạy về truyền thông. Vậy phải tự học, phải viết sách để khai thông cho mình và giúp ích người khác. Cuốn sách thứ tư, “Lịch sử văn học Anh trích yếu” (xuất bản năm 1997), là một cố gắng đúc kết kiến thức có được về một nền văn học có ảnh hưởng rất lớn đến độc giả hiện nay trên toàn thế giới. Có thể nói văn học Anh đã dần dà thay thế vị trí ảnh hưởng của văn học Pháp. Nhưng thực tế số sách tiếng Việt nghiên cứu về văn học thế giới nói chung và văn học Anh nói riêng quả không nhiều nhỏi gì. Bộ sách hai tập “Lịch sử văn chương Anh” của tác giả Đỗ Khánh Hoan là một bộ sách tiếng Việt đầy đặn và độc đáo. Cuốn “Lịch sử văn học Anh trích yếu” tuy  không dày lắm nhưng có đặc điểm là đưa ra được những trích đoạn tiêu biểu thể hiện văn phong của các tác giả mà tôi cho là cột mốc và tiêu biểu của nền văn học Anh. Tiếc là tôi không có thì giờ dịch sang tiếng Việt các trích đoạn này. Việc này đã cản trở, không giúp gì được các đọc giả phổ thông thưởng thức văn chương Anh. Ngoài ra khi sách được xuất bản thì tôi không còn đứng lớp, do đó số người mua sách không nhiều. Việc làm bảng tra (index) đã làm cho tôi mất nhiều thì giờ vì tôi đã làm hoàn toàn “thủ công”, lúc ấy tôi chưa biết tận dụng hết những “khả năng” của máy vi tính.

Sau hai mươi lăm năm gắn bó với công việc dịch sách viết sách và với hơn bảy mươi đầu sách đã xuất bản tôi cảm thấy không cần thiết phải tiêu hao năng lượng ở những đề tài phổ thông nữa nên đã giới hạn ở một số đề tài chọn lọc mà thôi. Các lãnh vực này vừa phải đáp ứng nhu cầu của độc giả vừa nhu cầu của chính bản thân tôi là tiếp tục việc tự học.

Như vậy, theo tôi, biên tập sách, dịch sách và viết sách là những phương thức tự học rất có hiệu quả. Tinh thần tự học ở đây thể hiện qua sự dấn thân chủ đạo và chủ động. Tuy nhiên đây không phải là một hình thức phổ biến về tự học vì hình thức tự học này đòi hỏi một hoàn cảnh nghề nghiệp đặc thù và một trình độ học thức nhất định, trong đó trình độ ngoại ngữ giữ vai trò rất quan trọng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s