TỰ THUẬT 3

TỰ THUẬT 3

Cà Đú. Một địa danh nghe ra thật quê mùa và thật là Chàm. Phải. Đó là nơi tôi sinh ra. Lúc nhỏ tôi không hề để ý, nhưng khi tôi đã lớn, khi người ta đã đổi cái tên Cà Đú ấy bằng cái tên Thanh Điền, rồi Lương Cách, thì tôi tiếc vô cùng. Đã có lúc tôi nổi giận nguyền rủa cái người “ngu dốt” kia đã dám đổi cái tên làng hay ho của tôi. Mặc dù đã bị đổi tên, nhưng tôi và những người làng của tôi, và nói chung những người dân ở Phan Rang, Ninh Thuận thuộc thế hệ của tôi trở về trước vẫn gọi đó là làng Cà Đú. Về sau, vào những năm 80, mỗi khi nhắc đến Cà Đú thì người ta nghĩ ngay đến Cầu Cà Đú. Mà Cầu Cà Đú còn có một tên gọi rất ư là nổi tiếng là Cầu Tử Thần. Tai nạn đã xảy ra liên miên ở đó. Cà Đú nổi tiếng cả nước vì cái cầu tử thần này. Nhiều lúc tôi trộm nghĩ mình cũng sẽ nổi tiếng vì mình là người Cà Đú! Thế rồi tôi tự đặt cho mình cái tên là Thống Cà Đú. Và bạn bè của tôi nay đã quá quen với cái tên này; nhất là các anh em Cựu Chủng Sinh Sao Biển Nha Trang. Cà Đú nghĩa là gì? Sở dĩ làng của tôi có tên là làng Cà Đú vì nó nằm dưới chân Núi Cà Đú. Núi Cà Đú thì ai cũng biết, một “tuyệt tác” núi đá nằm gần quốc lộ 1 cách Phan Rang mươi cây số về hướng đông bắc. Từ xa nhìn lại Núi Cà Đú có hình một con vích (rùa biển) khổng lồ. Vì vậy từ Cà Đú xuất phát từ từ tiếng Chàm là  CHƠK AĐUK (núi con vích), nếu viết theo hệ thống Latinh quốc tế hiện nay tức hệ thống Latinh Mã Lai Đa Đảo thì là CEK ANDUK. (C đọc là CH, E đọc là Ơ, ND đọc là Đ). Từ CHƠK AĐUK này đã có trong sách vở của người Chàm từ lâu đời rồi. Như vậy, từ CÀ ĐÚ là kết quả của sự kết hợp của phụ âm cuối K của từ CHƠK (núi) với từ AĐUK (con vích) mà hình thành. Đầu thế kỷ XX các học giả của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) lần đầu tiên dùng từ KAĐUK là khi đề cập đến Bia Kađuk (C123), còn gọi là Bia Batau Tablah II, tức Bia Đá Nẻ 2. (Xem Tự thuật 2). Nhân nói về địa danh Cà Đú này tôi muốn lạc đề một chút về vấn đề địa danh của người Chàm. Đối với người Chàm, có một sự phân biệt rõ ràng khi đặt những địa danh. Đối những vùng đất rộng lớn như những tiểu vương quốc, hoặc những nơi quan trọng như thủ phủ thì người Chàm dùng từ Sanskrit như: Indrapura, Amaravati, Vijaya, Kauthara, Panduranga, Simhapura, Virapura… Còn những địa phương riêng lẻ bình thường thì xem ở đó có gì đặt nấy và bằng tiếng Chàm. Vì làng Cà Đú của tôi gần núi Cà Đú mà núi Cà Đú sở dĩ gọi như thế vì nó có hình con vích nên làng của tôi có cái tên đã được Việt hóa là làng Cà Đú. Nhân dịp này tôi cũng muốn đính chính một địa danh mà theo tôi người Việt đã giải thích sai, lâu rồi người ta vẫn tin là đúng, rồi các hướng dẫn viên du lịch học theo sách cứ thế mà giải thích cho khách du lịch. Đó là từ Nha Trang. Không mất thì giờ với lối giải thích “thật buồn cười” Nha Trang là do Nhà Trắng, tôi muốn nói ngay Nha Trang là do từ tiếng Chàm AIA TRANG. Đúng là như thế. Nhưng hiện nay, theo tôi, người ta đã giải thích sai nghĩa từ ngữ này. Người ta thường giải thích là: AIA là nước, sông. TRANG là lau sậy, tre. AIA TRANG là sông lau sậy, sông tre. Giải thích như vậy là không đúng. Vì trong tiếng Chàm, KRAUM chỉ cây tre, PABAOW chỉ lau sậy và PABAO TRANG chỉ cây mía đường. Lối giải thích này xuất phát từ một học giả trước 75 là ông Thái Văn Kiểm, mà ông này cũng chỉ học lại sự giải thích của một trí thức Chàm lúc bấy giờ là ông Lưu Quý Tân (Jaya Panrang) mà thôi. Thật ra AIA TRANG chỉ là một địa danh chỉ một nơi, một địa điểm, chứ không phải một vùng đất. AIA có nghĩa là nước, là sông, và TRANG có nghĩa là giao nhau. AIA TRANG không chỉ cả một vùng đất chạy dọc con sông Cái, hay cả một vùng đất Khánh Hòa ngày nay, vùng đất này đã có tên gọi là KAUTHARA rồi, mà chỉ một địa điểm, một nơi mà thôi. Đó là nơi có tháp Po Nagar. AIA TRANG có nghĩa là nơi con nước giao nhau. Chúng ta thấy ngay điều này khi đứng trên tháp nhìn xuống thấy hai nhánh sông Cái giao nhau ngay bên dưới chân tháp để đổ ra cửa biển. Nhân đây cũng nói rõ thêm từ Po Nagar. Người Pháp khi ghi âm « Po Nagar », chữ « g » đọc là « c », chữ « r » ở cuối vần dùng để ghi âm « nh » của tiếng Chàm, cho nên đúng ra phải phát âm là « Pô Na Cành », chứ không phải « Pô Na Ga » như người ta quen đọc như hiện nay. Đúng như vậy. Người Chàm gọi nữ thần trên tháp đó là « Pô Na Cành » chứ không gọi là « Pô Na Ga ». Thật ra còn rất nhiều chuyện cần sửa sai lắm. Nhưng tôi đã lạc đề quá xa rồi.

Trở lại chuyện Cà Đú. Làng Cà Đú của tôi gốc gác là một bãi đất hoang nằm dưới chân núi Cà Đú. Tôi có nghe các cụ kể rằng ngày xưa người Hời ở những làng phía trên thường cỡi ngựa lui tới chỗ này và có chôn cất người chết ở đây. Tôi không biết thực hư như thế nào. Nhưng rõ ràng trong làng có nhiều mã vôi và theo chỗ tôi biết thì người Chàm theo Bà la môn giáo, còn gọi là Chăm Ahiêr, và người Chàm theo Hồi giáo cổ truyền, gọi là Chăm Awal, còn thường gọi hơn nữa là người Bàni, cả hai đều không dùng hình thức mã vôi này. Vậy những mã vôi này là của ai? Đây là một đề tài cần phải nghiên cứu làm rõ. Ở trên tôi có nói người dân làng tôi nói riêng và dân Phan Rang nói chung quen gọi người Chàm là người Hời. Đây là một lối gọi quả là « ép uổng » vì đúng là chữ Hời xuất phát từ chữ Hồi, chỉ Hồi giáo. Nhưng người Chàm theo Hồi giáo chưa được một nửa. Có thể nói số người Chàm theo Bà la môn giáo có phần đông hơn. Người Chàm bà la môn giáo và người Chàm Hồi giáo không được phép lấy nhau.Và người Chàm theo Hồi giáo còn được phân biệt thành Hồi giáo cũ (Bà ni) và Hồi giáo mới (Islam). Người Chàm theo Hồi giáo cũ chịu ảnh hưởng tín ngưỡng dân gian bản địa và không hề quan tâm đến thánh địa Mecca. Tuy nhiên những người Chàm này vẫn thường được gọi là người Bà ni. Từ Bà ni xuất phát từ từ Ả Rập, Bêni là những người con, tức những người con của Mahômét ấy. Theo tôi, tuy đa số người Chàm theo Bà La môn giáo, nhưng vào giai đoạn cuối, vào thời các vương triều cuối cùng của Champa, Hồi giáo thịnh hành hơn. Do đó người Việt gọi người Chàm là Hời. Và ngày xưa chỉ có Núi Cà Đú. Làng Cà Đú chỉ xuất hiện khi một số giáo dân Công giáo tụ tập ở bãi đất hoang dưới chân Núi Cà Đú mà thôi. Số giáo dân ở đây cũng như ở làng Hộ Diêm, cách đó một cây số về phía bắc, là những người dân Bình Định theo cố G.Geoffroy vào đây trước thì làm ruộng muối sau thì làm ruộng lúa. Giáo họ Cà Đú của chúng tôi ban đầu có một nhà nguyện nhỏ mãi trong Đá Bắn. Về sau nhà nguyện này dời về bên trên quốc lộ. Sau lại dời về  bên dưới quốc lộ. Rồi nhà nguyện này được dời đến chỗ nhà thờ Cà Đú hiện nay. Sở dĩ tôi nói dài dòng về chuyện này vì tôi đã được sinh ra trên nền cũ cái nhà nguyện đã được dời lần cuối cùng này. Tôi đặt biệt lưu ý chuyện này vì muốn nói đến hoàn cảnh xuất thân của tôi. Tuy tôi xuất thân từ một làng quê nông nghiệp nhưng lại thuộc gia đình «trí thức». Cha tôi là một cựu chủng sinh của Tiểu chủng viện Làng Sông Bình Định. Về sau cha tôi là thầy giáo của Làng Cà Đú. Tôi sống giữa một làng nông nghiệp nhưng quả thật cha mẹ tôi không sống bằng nghề làm ruộng. Khi tôi lên năm thì cha tôi lại chuyển lên Đà Lạt dạy học ở một trường Tiểu học thuộc Nhà thờ Con Gà Đà Lạt, tức Nhà thờ Chính tòa Đà Lạt hiện nay. Một năm sau cha tôi lại chuyển về dạy ở Trường Tiểu học thuộc nhà Thờ Hầm Đà Lạt tức Domaine Marie Dalat do các Sœur Dòng Vincent de Paul điều hành. Đây là một trường học dạy các trẻ em người Pháp. Hằng ngày cha tôi vẫn đưa tôi đến lớp dạy của cha tôi. Lạ lùng và thoáng làm sao! Vì khi cha tôi dạy cha tôi thường để tôi ngồi ngay trên bàn thầy giáo nhìn xuống mấy chú học trò người Pháp. Tôi đã quen với chuyện dạy học khi còn rất nhỏ. Đến giờ phút này tôi vẫn còn thắc mắc không hiểu sao hiệu trưởng cho phép cha tôi làm như vậy. Hiện nay tôi muốn biết nguyên do nhưng cha tôi không còn nữa để tôi hỏi chuyện này. Về sau tôi cũng đã là học sinh của ngôi trường này, nhưng tôi không phải là học sinh của lớp cha tôi dạy. Và như thế từ nhỏ tôi được học tiếng Pháp. Và có thể nói «ngôn ngữ mẹ đẻ»(langue maternelle) của tôi là tiếng Pháp. Tôi không được học tiếng Việt! Mãi cho đến năm 1959 cha tôi mới trở về làng Cà Đú. Và niên khóa 1959-1960 tôi học lớp nhì, tức lớp bốn bây giờ, tại Trường Tiểu học Hộ Diêm, vì làng Cà Đú chỉ có lớp một cho đến lớp ba. Tôi học lớp nhì tiểu học chương trình Việt. Nhưng lại học rất giỏi. Thường là đứng đầu lớp! Và không hiểu sao luận văn tiếng Việt của tôi cũng rất giỏi! Bắt đầu niên khóa 1960-1961 tôi được tuyển vào học lớp huitième tại Tiểu chủng viện Sao Biển Nha Trang (TCVSB). Lúc đó Tiểu chủng viện này có tên Tây là Petit Séminaire Stella Maris và  dạy chương trình Pháp. Tôi lại trở về với chương trình Pháp! Tôi đã học ở đây từ lớp huitième cho đến hết lớp troisième (1960-1966). Ở đây ngôn ngữ chính vẫn là tiếng Pháp, sách vở đều là tiếng Pháp cả. Hai sinh ngữ phụ là tiếng Anh và tiếng Việt! Có một điều rất may cho chúng tôi là tuy tiếng Việt được coi là một sinh ngữ phụ nhưng chúng tôi đã được hai vị giáo sư người Việt dạy môn Việt văn, có lẽ vì ý thức dân tộc khá cao, đã dạy một chương trình Việt văn hoàn toàn ngoài chương trình. Vị thứ nhất là linh mục Nguyễn Hữu Ban. Ngay từ những lớp đầu cấp chúng tôi được học về các truyện nôm «Bích câu kỳ ngộ», «Chinh Phụ ngâm»… rồi thơ của Chu Mạnh Trinh, tôi không thể nào quên bài «Hương sơn phong cảnh ». Rồi cha còn «cách mạng» đến nổi cho chúng tôi học nhiều đoạn trong tác phẩm «Đời phi công» của Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Vị thứ hai là linh mục Lê Xuân Hoa, tức nhà thơ công giáo nổi tiếng Xuân Ly Băng. Ngoài việc theo sát chương trình Việt văn của chương trình Việt cha còn dạy chúng tôi chữ Hán theo cuốn sách giáo khoa dạy chữ Hán do Bộ Quốc Gia Giáo Dục xuất bản năm 1954. Đó là cuốn «Hán –Việt Tân Khóa Bản». Sách này nguyên là sách «Hán –Văn Tân –Giáo Khoa Thư» của ông Lê Thước, Nguyễn Hiệt Chi, Bộ Q.G.G.D. đã giao ông Nguyễn Quảng Xương hiệu đính và tăng bổ ; ông Phan Duy Tiếp, Đoàn Thăng, là những vị cử nhân duyệt chính. Theo tôi, đây là một cuốn sách giáo khoa dạy chữ Hán rất độc đáo do các tác giả Việt Nam soạn để dạy chữ Hán cho các học sinh người Việt đầu cấp trung học, một cuốn sách hiện nay các nhà sưu tập sách cổ khó tìm thấy. (Sở dĩ tôi viết chi tiết chuyện đây cũng vì lý do này). Ngoài ra cha còn cho chúng tôi học thuộc lòng những câu trong «Minh Tâm Bửu Giám». Tôi còn nhớ rất rõ và đem ra áp dụng trong cuộc sống các câu như: «Vật dĩ ác tiểu nhi vi chi. Vật dĩ thiện tiểu nhi bất vi.» (Lưu Bị), và «Thiện nhân bất thiện nhân chi sư, bất thiện nhân thiện nhân chi tư. Nhu thắng cương nhược thắng cường, cố thiệt nhu thường tồn xỉ cương tắc chiết.» (Lão Tử). Thật ra cha giáo của chúng tôi dạy chữ Hán cho các chú tiểu chủng sinh nhỏ tuổi như chúng tôi là tiếp tục cái truyền thống dạy chữ Hán chữ Nôm trong các Chủng viện ở Việt Nam ngày xưa. Nghe tôi nói điều này sẽ có nhiều người cho là chuyện bịa đặt. Tôi chỉ nêu lên một sự thật là các kinh kệ thường nhật của người Công giáo «đọc trong nhà thờ» trước đây là bằng chữ Nôm. Các «cha già» vẫn thường xác nhận với chúng tôi rằng ngày xưa các cha đọc sách kinh chữ Nôm chứ không bằng chữ quốc ngữ. Ngắn gọn: hiện nay tôi đang có trong tay một số sách kinh này. Và tại Trung Tâm Dịch Hán Nôm Công Giáo do linh mục tiến sĩ ngữ học Nguyễn Hưng điều khiển hiện có rất nhiều sách Hán Nôm Công Giáo. Trước đây và cả bây giờ mỗi khi nói đến các nhà thơ Công giáo thì người đầu tiên người ta thường liên tưởng đến là Hàn Mặc Tử. Thật ra có thể nói được rằng Hàn Mặc Tử chỉ tìm nguồn thi hứng ở Công giáo mà thôi, nhà thơ Xuân Ly Băng mới thật sự là nhà thơ Công giáo với đầy đủ ý nghĩa. Nhà thơ Xuân Ly Băng lại là thầy dạy Việt văn của chúng tôi. Điều này cho thấy Việt văn rất được chú trọng ở trong một trường học dạy chương trình Pháp như Tiểu chủng viện Sao Biển Nha Trang. Đó cũng là một «cơ chế phản ứng tự vệ». Vì tôi học chương trình Pháp, tôi không có điều kiện học nhiều về Việt Nam cho nên tôi có khuynh hướng tìm học những môn mình không được học hoặc được học ít. Trong chương trình Pháp, ngoài việc học về văn minh Hi Lạp, La Mã ra, chúng tôi còn được học rất kĩ về Trung Cận Đông, văn minh Lưỡng Hà Địa (Mesopotamia) và văn minh Ai Cập. Đó cũng là điều kiện thuận lợi và cần thiết để tìm hiểu về thế giới Kinh Thánh. Có điều thú vị là giáo sư văn chương ngôn ngữ Pháp của chúng tôi lại kiêm luôn việc dạy lịch sử. Đó là cha J.Hirigoyen (Hương), một người Pháp gốc Basque, một tu sĩ hiện đại, đẹp trai và rất nghệ sĩ. Nói tới người là nói tới sự văn minh, trẻ trung, năng động nhưng rất đạo đức. Phương pháp dạy học của người mới mẻ gắn chặt với thực tế và thực hành. Chúng tôi viết những câu tiếng Pháp bên dưới những hình ảnh cắt từ các báo tiếng Pháp. Chúng tôi vừa học về chocolat và fromage Pháp vừa nhấm nháp những đặc sản này. Chúng tôi học về các loại hoa với những hình ảnh cắt từ các báo. Chúng tôi học về kỹ nghệ xe hơi của châu Âu với các échantillons nhỏ xíu trên tay. Và chúng tôi học về lịch sử âm nhạc cổ điển tây phương vừa được nghe đĩa các symphonies các morceaux của Handel, Haydn, Bach, Beethoven, Schubert, Schumann, Mozart, Liszt, Chopin, Tchaikovsky…vừa nghe người phân tích từng mouvement một. Nên nhớ đó chỉ là những giờ về lịch sử mà thôi, không phải giờ học về âm nhạc. Tôi cho rằng kiến thức về âm nhạc, nhất là về âm nhạc cổ điển tây phương tôi có được xuất phát từ những giờ học đó. Giáo sư Hirigoyen nay không còn nữa. Tôi viết những dòng này để tưởng nhớ đến vị thầy tài năng của tôi. Bắt đầu từ lớp sixième tôi còn được học chính khóa tiếng Latinh nữa. Và cổ ngữ này đeo đuổi tôi mãi đến năm lớp terminale, tức 7 năm trời. Thế mà vẫn chưa thông. Vì thế về sau này khi tôi nghe một vị học giả ở miền Bắc khoe rằng biết tiếng Latinh, nghĩa là thông, là rành tiếng Latinh vì đã từng được học môn này hai năm đầu cấp ở Trường Thiên Hựu (Providence) Huế thì tôi lấy làm ngạc nhiên lắm lắm. Chắc là «thiên tài»! Hiện nay các Đại Chủng viện ở Việt Nam chỉ học có hai năm cổ ngữ này với thời lượng hai tiết một tuần, theo tôi thì «chả làm ăn gì được»! Mất thì giờ vô ích! Ở TCVSB Nha Trang tôi đã học tiếng Latinh với Cố J.V.Clause (Hồng), (x. Tự thuật 1), cố L.P.Lagrange (Quang), một vị thánh sống rất hài hước có khiếu về biếm họa, đã từng bị trục xuất ra khỏi Trung Hoa Lục Địa, và tiến sĩ văn chương Anh Hoàng Kim Đạt; cha Đạt còn là giáo sư Anh văn của chúng tôi. Tôi cũng được học văn học Pháp với bề trên TCVSB là cố P.Jeanningros (Vị), cùng với những giờ tập hát Bình ca Grêgôriô (chant grégorien) vào các buổi sáng Chúa nhật. Cố Vị quả là một ca sĩ trứ danh. Quả thật cứ xem chương trình học cùng «dàn giáo sư» tôi «thọ giáo» ở TCVNSB thì biết được sở thích, sở trường và khả năng của tôi. Điều này cho thấy «yếu tố thầy giáo» có tính chất quyết định trong việc đào tạo học sinh. Tôi nhớ, những năm sau 1975, rất ít học sinh giỏi thi vào các Trường Đại Học Sư Phạm, đại đa số là học sinh trung bình. Tại sao? Vì làm thầy cô giáo thì nghèo lắm. Hồi đó vợ tôi ra chợ không dám xưng mình là giáo viên; sợ người khác thương hại. Dù vợ tôi là giáo viên Anh Văn của Trường cấp 3 hẳn hoi. Trước 75 một giáo sư đệ nhị cấp Anh văn, lúc đó gọi thế, rất có giá ; nếu đó là nữ giáo sư lại càng «sang» hơn nữa. Sau 75 chúng tôi thường nói đùa mà thật: «Thầy giáo là tháo giầy, giáo chức là dứt cháo!» Nhưng nếu không có học sinh giỏi thi vào Trường Đại Học Sư Phạm thì làm sao có thầy cô giáo giỏi được? «Đột biến» chăng? Trong khi Tiến sĩ Văn chương Anh Hoàng Kim Đạt dạy Anh văn cho chúng tôi là những học sinh các lớp Cinquième, Quatrième, Troisième, thì các học sinh lớp 7, lớp 8, lớp 9 ngày nay học tiếng Anh với ai ? Sở dĩ tôi nhấn mạnh đến điểm này là vì hiện tại người ta quá coi nhẹ việc đào tạo các giáo viên mẫu giáo, tiểu học và trung học cơ sở. Phần lớn các giáo viên này xuất thân vốn không phải là những học sinh giỏi mà lại được đào tạo trong một thời gian ngắn, thậm chí nhiều khi còn «cấp tốc» nữa thì thử hỏi việc giáo dục cơ bản làm sao có chất lượng. Thế có nghĩa là người ta quan niệm học sinh càng nhỏ tuổi càng dễ dạy. Thật là sai lầm! Vì tôi được may mắn học tập trong một môi trường tốt như thế cho nên đối với tôi việc thi cử diễn ra thật dễ dàng, tôi không hề cảm thấy một sự khó khăn nào. Và tôi đã dự thi liên tục. Cuối năm huitième tôi về nhà đâm đơn thi thí sinh tự do lấy bằng Tiểu học chương trình Việt, để rồi bốn năm sau khi tôi học xong lớp quatrième tôi nộp đơn thi thí sinh tự do bằng Trung học chương trình Việt. Hết năm troisième tôi thi Brevet, tức bằng Trung học của chương trình Pháp. Tôi kết thúc việc học ở TCVSB với mảnh bằng Brevet này. Sau đó chúng tôi được gửi ra học tại Trường Trung Học Thiên Hựu Huế. Đây là một trường trung học nội trú của Công giáo có từ năm 1933, một trường Trung học tư thục rất nổi tiếng và dạy chương trình Pháp. Khi mới được thành lập trường này có cái tên Tây là «Institut de la Providence». Chúng tôi có nhiều bậc đàn anh nổi tiếng xuất thân từ trường này. Ở cánh bắc thì có Phan Ngọc và Cao Xuân Hạo, hai vị này được học ở đây hai năm đầu cấp. Ở phía nam thì có các vị như: Dương Thiệu Tống, Bùi Xuân Bào, Tôn Thất Thiện, Lý Chánh Trung, Lê Thành Trị, Lê Thanh Minh Châu…Vào thời gian này Trường Thiên Hựu dạy song song hai chương trình Pháp và Việt. Ở trường Thiên Hựu tôi lại được may mắn «thọ giáo» các «đại tôn sư » Georges Lefas, Modeste Duval, Jean Oxarango, M.G.Cressonnier, và hai giáo sư người Pháp do Địa phận Nha Trang chi viện. Đó là cha J.J.A.Larroque, dạy môn vật lý, và cha René Gantier . Các vị này xét về tuổi tác thì đáng tuổi ông bà của tôi, xét về thâm niên giảng dạy thì thuộc hàng «trưởng lão» trong làng giáo dục Việt Nam. Ngoài ra tôi còn được học Việt văn với thầy Lâm Toại, một nhà giáo kỳ cựu và cũng là một huynh trưởng Hướng Đạo ở Huế. Thầy Lâm Toại cũng cho chúng tôi học đúng chương trình Việt văn của các lớp 10 và 11 chương trình Việt. Đặc biệt trong hai năm này tôi học Việt văn rất giỏi và thầy Lâm Toại vẫn thường đưa những bài làm của tôi đọc cho các lớp chương trình Việt nghe. Tôi rất phấn khởi. Có lẽ tôi đã chú ý và chăm học môn Việt văn hơn kể từ đó. Theo tôi, Trường Thiên Hựu nổi tiếng và thành công do hai đặc điểm này. Thứ nhất là kỷ luật rất «thép». Kỷ luật này tạo nề nếp cho học sinh và hình thành sự tự lập và tinh thần tự học. Hai hình ảnh gây ấn tượng nhất cho tôi là hình ảnh các học sinh được đi ra ngoài, chúng tôi quen gọi là sortie libre, hai giờ vào mỗi sáng chủ nhật. Nếu trong tuần học sinh nào có sai phạm thì sẽ bị «cấm túc», nhìn gương mặt mấy học sinh bị cấm túc mới thật não lòng làm sao. Hình ảnh thứ hai là cảnh im lặng trong phòng học chung; trong những giờ học tự do (étude libre).  Đặc điểm thứ hai là ban giáo sư giỏi và giàu kinh nghiệm. Ở Thiên Hựu hai giáo sư tôi thán phục nhất là cha Lefas và cha Duval. Cha Lefas là một huynh trưởng kỳ cựu của Hướng Đạo Pháp. Cha dạy chúng tôi văn chương Pháp và Sử Địa. Cha có một phương pháp phân tích văn chương rất đặc biệt. Đó là phân tích theo hình thức chia thành cột (mettre en colonnes). Cha rất chú trọng đến phép ẩn dụ (métaphore). Giáo án của cha là một tờ giấy lớn đã trổ màu vàng vì năm tháng gồm nhiều tờ giấy ghép lại, trên đó ghi chằng chịt nào chữ nào sơ đồ và rất rất nhiều những phần bổ sung sửa đổi. Tôi có cảm giác tờ giấy đó có từ thời cha bắt đầu dạy ở trường này; chắc các bậc đàn anh của chúng tôi đã từng thấy tờ giáo án này! Và hãy tưởng tượng một cụ già bê một cái máy quay đĩa từ tầng hai của một dãy nhà, xuống cầu thang để rồi băng ngang một cái sân rộng rồi lại leo lên cầu thang để đến một lớp học ở tầng ba một dãy nhà khác chỉ để cho chúng tôi nghe một đoạn đĩa chưa khi nào được mươi phút. Và khi đang nghe bỗng có tiếng chuông báo hết giờ thì cha tắt ngay kèm theo câu «c’est dommage!» với tiếng thở dài tiếc nuối. Cha Duval quả là một «thiên tài toán học». Cha cầm cuốn sách giáo khoa toán, chỉ cần liếc nhìn con số ghi bài tập là có thể viết ngay phương trình lên bảng. Tôi nghĩ cha đã thuộc lòng cuốn sách nên chỉ cầm trên tay cho có lệ. Lúc ấy chúng tôi đang học bộ sách Mathématiques của C. Bréard, một bộ sách toán học rất hiện đại và đương nhiên là «cao cấp» vào thời bấy giờ. Trong lớp cha Duval rất nghiêm. Hình như tôi chỉ thấy cha bật cười mỗi một lần khi cha đứng trên bục giảng nhìn xuống thấy thằng bạn của tôi đang cố bịt mũi bịt miệng cố ngăn cái hắt hơi nhưng không kiềm giữ được một âm thanh bị nghẽn thoát ra. Nhưng bên ngoài lớp học cha rất vui vẻ và gần gũi. Mỗi khi chúng tôi có ai đó mất chìa khóa valise cha sẵn sàng đến tận nơi, mang kính một mắt nhìn vào lỗ khóa cha cười kha kha mấy tiếng và hôm sau cậu học trò đó có thể đến phòng cha lấy một chìa khóa có hình thù rất ngộ nghĩnh. Vì thế có nhiều học sinh không hề mất chìa khóa nhưng vẫn báo mất cốt chỉ để có những chìa khóa có hình thù nhìn rất thích mắt kia. Ngoài ra tôi vẫn thường thấy khi thì cha nằm dưới gầm xe khi thì chui đầu dưới capô xe để sửa xe của một cha giáo sư nào đó. Cha Duval rất giỏi về máy móc. Tôi nghĩ vậy.  Hết năm seconde tôi lại về thi thí sinh tự do bằng Tú tài I chương trình Việt. Hết năm première, với bằng Tú tài một được một năm, tôi có quyền thi thí sinh tự do bằng Tú tài II chương trình Việt. Để thi lần này tôi phải mua sách triết để tự học thêm chương trình triết học lớp 12 vì ở lớp première chúng tôi chưa học triết. Tôi cũng thấy dễ dàng và không thấy khó khăn gì. Cả hai lần thi Tú tài đều nhằm vào kỳ hè cho nên tôi đã về thi tại Nha trang. Và như thế cuối niên khóa 1967-1968 tôi đã có mảnh bằng Tú tài II chương trình Việt. Rất tiếc tôi không được học lâu dài ở trường Thiên Hựu vì đã xảy ra một sự kiện bất thường vào năm 68. Đó là biến cố Tết Mậu Thân. Lúc bấy giờ Trường Thiên Hựu phải đóng cửa vì thế mấy tháng cuối cùng của lớp première chúng tôi phải dời về học ở Collège d’Adran Dalat. Từ Huế lên Đà Lạt có sự thay đổi lớn về khí hậu, nơi học tập và nhất là các giáo sư. Tôi đã từng thấy khi còn ở TCVSB Nha Trang có sự khác nhau trong phong cách giữa các chủng sinh TCVSB với các đệ tử Dòng Lasan, thậm chí trong cả môn chơi thể thao. Trong khi môn chơi có thể nói sở trường của chúng tôi là bóng đá thì họ lại chuyên về bóng rổ. Trường Trung học Adran Đà Lạt cũng là một trường Trung học nội trú dạy chương trình Pháp rất nổi tiếng. Ở Miền Nam này lúc bấy giờ có ba trường Trung học nội trú dạy chương trình Pháp do các sư huynh Lasan điều khiển. Đó là Trường Pellerin Huế, Trường Adran Đà Lạt và Trường Taberd Sài Gòn. Và sự thật là học sinh ở các trường này thường phải là những con nhà khá giả mới có đủ điều kiện theo học. Các giáo sư mới của chúng tôi là các Frères (sư huynh): Camille, Jérôme, Pierre, Placide, Humbert và hai cha Larroque và Mais do địa phận Nha Trang chi viện, cùng cha Lange của địa phận Kontum. Ngoài ra còn có một vài vị giáo sư bên ngoài được mời vào dạy nữa. Các sư huynh này là những nhà giáo kỳ cựu và nổi tiếng trong ngành giáo dục và cả trong Dòng Lasan lúc ấy. Chúng tôi không nội trú trong trường như những học sinh khác, nhưng ở trong một dãy nhà riêng thuộc cư xá sinh viên của Viện Đại học Đà Lạt. Hằng ngày chúng tôi đi xe đạp đến Trường Adran để học. Đường Đà Lạt mà đi xe đạp phải nói là một hiện tượng lạ mắt. Niên khóa 1968-1969 tôi học lớp terminale ở Trường Adran, nhưng vì tôi đã có Tú tài II chương trình Việt nên tôi đã tự ý ghi danh học năm thứ nhất, lúc bấy giờ gọi là năm dự bị, tại Đại học Văn khoa Đà lạt. Tôi phải học chính bên Adran và thỉnh thoảng trốn học về học bên Đại học. Và những giờ tôi thường trốn học là những giờ triết của Frère Camille. Hình như Frère có biết nguyên nhân. Hậu quả là điểm triết trong học bạ của tôi năm đó thấp. Và Frère có phê trong học bạ về điểm triết của tôi một câu không thuận lợi chút nào cho việc thi cử của tôi. Thế nhưng không hiểu sao trong kỳ thi Baccalaureat năm đó tại Lycée Yersin Dalat, theo tôi được biết, điểm triết của tôi cao nhất trong trung tâm thi đó vào năm ấy. Tôi có đem chuyện này trình với Frère, Frère cũng thuộc hội đồng chấm thi năm đó, tôi còn nhớ rất rõ câu trả lời của Frère: “Frère biết con học được, nhưng vì con hay trốn những giờ của Frère nên Frère phải phê như thế để con lo mà học.” Tôi có than phiền là Frère phê như thế là “giết” tôi, là gây trở ngại cho việc thi cử của tôi và “làm xấu đi” học bạ của tôi. Frère chỉ cười trừ. Và tôi không bằng lòng chút nào. Thật ra thì tôi không học ban triết, chương trình Pháp gọi là série A, mà học ban Khoa học thực nghiệm gồm ba môn “chủ lực” là Lý, Hóa và Vạn vật, và chương trình Pháp gọi là série D. Và thực tế là tôi rất giỏi môn Vật lý (Physique), vì tôi mộng trở thành nhà thiên văn mà! Cha Larroque, một cử nhân Lý Hóa của Tây, đã dạy tôi ba năm môn này. Năm 1970 tình cờ cha gặp tôi ở phi trường Tân Sơn Nhất trong khi đang chờ chuyến bay, có hỏi tôi đang học thứ gì. Tôi đã trả lời là tiếng Anh và tiếng Việt, và cha đã giơ hai tay lên trời hối tiếc vì cha cứ tưởng tôi đi theo con đường của cha. Ở Adran tôi còn chú ý đến Frère Humbert (Cương) vì Frère thường cho chúng tôi thực hành những thí nghiệm sinh vật tại phòng thí nghiệm của Viện Đại học Đà Lạt; lúc ấy Frère là giáo sư môn Sinh vật của Viện Đại học Đà Lạt. Chắc vì Frère Cương mà tôi cũng rất thích môn Sinh vật. Và điểm sinh vật của tôi trong kỳ thi Bac năm đó cũng cao. Nhưng hai câu nói gây sự chú ý của tôi nhất trong thời gian học ở Adran mà bây giờ tôi vẫn còn nhớ. Đó câu “đe dọa” của Frère Camille: “Après la mort vous verrez!” Và câu nói có tính cách đúc kết kinh nghiệm của Frère Jérôme: «Muốn xem người nào đó có trưởng thành hay không thì hãy xem người đó có tự quyết định được hay không.» Thường ngày các Frère giảng bài bằng tiếng Pháp, không hiểu sao hôm đó Frère lại buột miệng nói câu này bằng tiếng Việt. Với kinh nghiệm của tôi, tôi nhận thấy rằng học sinh thường rất để ý và không bao giờ quên một câu nói nào đó của thầy cô giáo. Và câu nói đó rất có ảnh hưởng đến học sinh, nhất là đối với những thầy cô giáo được học sinh kính nể trọng. Bản thân tôi đã từng giật mình vì bất ngờ nghe một học trò cũ lặp lại một câu nói của mình cách đó mười năm hai mươi năm mà bây giờ mình không còn nhớ nữa. Một trong những trường hợp đó là trường hợp của Hoàng Trần Vạn Thành, một học trò cũ của tôi hiện nay là kỹ sư của NASA (x.Tường thuật 2).  Đó là năm Thành học lớp 10. Trong một giờ học cậu học trò to con và tinh nghịch đã hỏi vì sao tên tôi là THỐNG. Tôi trả lời: THỐNG ở đây là THÀNH THỐNG, nghĩa là tất cả phải trở thành hệ thống; đối với tôi tất cả phải có hệ thống mới được. Chắc những gì tôi dạy em đã quên hết rồi, em chỉ còn nhớ câu trả lời của tôi đó mà thôi. Trong một mail từ Mỹ gửi về em cho biết em chỉ còn nhớ về tôi duy nhất câu trả lời của tôi ngày xưa đó. Em cho biết bây giờ làm ở cơ quan NASA thấy lời của tôi nói là đúng, tất cả phải thành hệ thống. Chính người học trò này đã cung cấp phần lớn những sách vở tài liệu để học các cổ ngữ, để tôi thực hiện mơ ước thời thơ ấu của mình. Cũng cần nhắc lại rằng số sách vở đó không phải là rẻ! Nói lên điều này tôi muốn lưu ý các thầy cô giáo hãy chú ý «mà liệu ăn liệu nói». Ngoài ra ảnh hưởng của các thầy cô giáo trên các em học sinh không phải là nhỏ. Từ đó triển khai thêm câu nói: «thầy cô giáo là tấm gương để học sinh noi gương theo.»… Cứ như thế cuối niên khóa 68-69 tôi đã thi hai nơi và vừa có bằng Baccalauréat vừa có chứng chỉ Dự bị Văn khoa Đà Lạt. Chính vì «đa đoan» như vậy nên mới có «ngả rẻ cuộc đời» (x. Tự thuật 1). Tôi xuống Saigòn chỉ để lãnh cái Certificat của Baccalauréat và định sau đó sẽ trở về Đà Lạt học Vật lý. Nhưng khi ở Sài Gòn thì bạn tôi tự ý lấy chứng chỉ dự bị Văn khoa của tôi nộp đơn để tôi thi vào Đại Học Sư Phạm Sài Gòn! Tôi đã thi đậu. Và tôi đã «ham vui» ở lại Sài Gòn thế rồi « kẹt » luôn ở đó, vì vào thời đó sinh viên ở trường nào sẽ làm giấy hoãn dịch ở trường đó; không đổi tới đổi lui được. Giấy hoãn dịch quả thật là «con đường sinh tử» của sinh viên. Thế mới hay mưu sự tại mình mà thành sự tại bạn bè. Một trang mới bắt đầu. Và lúc này vai trò của Đức Hồng y Phanxicô thật là quan trọng. (x.Tự thuật 1).

Đúng thế. Cái giấy giới thiệu của Đức Cha Nguyễn Văn Thuận gửi cho cha Henri Forest, giám đốc Cư xá Đắc Lộ Sài Gòn mang tính quyết định. Thư của Đức cha không dán, cốt để tôi mở ra xem lén. Nội dung thư chỉ nói vỏn vẹn tôi là một mẫu người nghiêm túc đang cần có điều kiện tốt để làm việc. Chỉ có vậy, và cha Henri Forest là người tạo điều kiện tốt đó cho tôi. Mà quả thật cha Henri Forest đã thực sự giúp đỡ tôi mãi cho đến ngày cha phải rời xứ sở này.

Hôm tôi vào gặp giám đốc Cư Xá Đắc Lộ thì tôi thấy trước tôi đang có một sinh viên ngồi trả lời những câu hỏi của giám đốc. Sự việc diễn ra đơn giản và nhanh chóng:

-Vì sao con xin vào Cư xá này?

-Vì con ở Đà Nẵng vào. Con cần một chỗ ăn ở để đi học.

-Đây không phải là hotel. Đây là một trung tâm giáo dục. Đây là một nơi để sinh viên làm việc.

Và tôi không nhìn thấy anh sinh viên này trong số những người được vào Cư xá năm đó.

Đến lược tôi, giám đốc Cư xá mở thư giới thiệu ra đọc và chỉ nói một câu rất đơn giản: «Entre, demain!» (Ngày mai con dọn vào!) Năm 72 tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài gòn, tôi phải rời Cư xá. Khi làm thủ tục rời Cư xá của tôi anh thư ký (secrétaire) ban đại diện sinh viên Cư xá mới hỏi tôi: «Sao hồ sơ của toi moi chả thấy gì cả, chỉ mỗi cái thư giới thiệu?» Khi dọn vào Foyer, hai ý nghĩ xuất hiện trong đầu tôi: Sao giống tu viện quá! Và…Sao sang vậy! Đúng vậy. Đi vào cổng của Trung tâm Đắc Lộ, chẳng khác gì đi vào cổng của một tu viện; cũng kín cổng cao tường như thế. Lúc bấy giờ cũng có những sinh viên đi vào thư viện của Trung tâm để học, nhưng cầu thang lên thư viện thì nằm sát tại cổng ra vào vì thế sinh viên vào thư viện thì lên ngay cầu thang và Trung tâm vẫn có được cái không gian yên lặng hoàn toàn. Đi ngang qua bức tường ngăn cách giống như bức bình phong là sân trong, và ngay đó là một sân bóng rỗ. Chỉ có một anh sinh viên đang chơi trong sân, hai ba anh khác đứng bên ngoài, trông có vẻ muốn vào chơi lắm nhưng sao chỉ đứng ngoài nhìn mà thôi. Về sau này tôi mới biết nguyên do. Rồi tôi đi ngang một cái sân nhỏ, cỏ trong sân được chăm sóc kỹ lưỡng, xanh tươi mát mắt, và rồi một bức tượng Đắc Lộ bằng đồng. Ngay tại cửa ra vào của Cư xá có một anh sinh viên ra đón tôi. Tôi nhìn thấy ngay trên tường trước mặt một huy hiệu (insigne) lớn hình mặt la bàn mũi kim chỉ một tôn chỉ (devise) bằng tiếng Latinh: ESTO VIR. Trước khi lên cầu thang tôi liếc vội bên trái thấy trong phòng khách (salon) có một hai anh sinh viên khác đang ngồi đọc cái gì đó. Và anh sinh viên đưa tôi vào phòng của tôi. Người bạn cùng phòng không có ở đó. Để đồ đạc vào tủ, tôi mở cửa sổ nhìn xuống sân thấy một hai người đi lại. Nhưng rất lạ: một không khí yên ắng của tu viện! Việc đầu tiên là tôi đi vào toilet. Sáng sủa và sạch bóng. Tôi nhìn thấy ở đầu hành lang có một người đang cọ rửa sàn nhà. Tôi có cái cảm giác rất ngại đi trên cái sàn vừa mới được cọ rửa đó. Sang thật! Vâng tôi đã ở trong cái môi trường rất «tu viện» và rất «sang» đó được ba năm (1969-1972). Sau khi ra trường mỗi dịp về Sàigòn tôi vẫn thường về ở đó. Có phòng dành riêng cho các cựu sinh viên cư xá, anh em thường gọi là các AFAR. Và mỗi lần về như thế bao giờ tôi cũng có cái cảm giác mình vẫn còn là FAR, tức sinh viên đang ở trong cư xá. Đối với tôi, tuy Cư Xá Đắc Lộ (Foyer Alexandre de Rhodes) không phải là một Trường Đại Học, nhưng quả đúng là một Trung tâm giáo dục, như tôi đã từng nghe cha giám đốc nói với anh sinh viên quê Đà Nẵng không được vào Cư xá mà tôi đã nói ở đoạn trước. Cư xá Đắc Lộ đã góp phần rất lớn trong việc hình thành kiến thức và nhân cách con người của tôi. Về kiến thức như đã nói trước đây (x. tự thuật 1 và tự thuật 2), ở tiểu học và trung học tôi đã được học trong những môi trường rất tốt cả về chương trình học lẫn ban giảng huấn. Tôi nghĩ ở Việt Nam mà có những điều kiện học tập như tôi thì thành thật mà nói «nhất nước» rồi. Thế nhưng khi lên Đại học, tôi không cảm thấy bằng lòng về những gì tôi được học ở Trường, và xin lỗi phải nói thật thôi, tuy «nói thật thì mất lòng». Tôi cảm thấy rất nhiều giáo sư ở các Đại học tôi đã từng «thọ giáo» quả thật chưa được «đúng tầm». Thật ra có một vài vị tôi rất ngưỡng mộ nhưng tôi lại không có điều kiện học cho đến nơi đến chốn. Trước tiên tôi phải nói đến giáo sư Đặng Đình Áng. Trong khi tôi vừa học bên Đại học Sư Phạm vừa học bên Đại Học Văn Khoa để «ôm» cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt và chữ Hán, chữ Nôm, thì tôi mới vỡ lẽ ra rằng «chả tốn công tốn sức bao nhiêu». Sao nó nhẹ nhàng «như tơ hồng» vậy. Một phần, nhưng có lẽ là phần quyết định, là tôi không tìm gặp được những bậc thầy tôi ngưỡng mộ như khi học ở Trung học! Thế rồi vì ĐHSP ở sát ngay bên Trường Đại Học Khoa Học và vì tôi đã có sẵn cái Baccalauréat ban khoa học tự nhiên, tôi mới nhớ lại môn Vật Lý nên ghi danh học chứng chỉ MGP (Mathématiques Générales et Physique). Tôi không gặp được một «thần tượng» Vật Lý nhưng lại gặp Gs. Đặng Đình Áng. Thật ra Gs. Áng chỉ dạy Giải tích 2 mà thôi, còn những thầy khác dạy những môn khác nữa như: Gs. Trần Văn Tấn, Khoa trưởng ĐHSP, dạy Giải tích 1, Gs Lâm Lý Hùng dạy Đại số, Gs. Lý Công Cẩn dạy Vật lý và một vị nào đó ăn mặt thật gọn gàng, nhưng tôi quên mất tên rồi, dạy Hình học. Tôi nhớ cả năm trời Gs. Áng chỉ «quay qua quay lại» với Tập Hợp Kín và Tập Hợp Hở mà thôi. Cứ Kín và Hở cả năm như vậy, «cua cấy» rất khó ghi, cũng may giáo sư có giới thiệu cho chúng tôi cuốn «Principles of Mathematical Analysis» của Walter Rudin. Tôi có «rình» mua được cuốn này, hiện nay tôi còn giữ làm kỷ niệm. Phải «rình » vì lúc bấy giờ không phải dễ mua  một cuốn sách toán bằng tiếng Anh như thế; hơn nữa các sinh viên khác cũng đang «săn»  cuốn sách đó như tôi. Tôi nhớ tôi đã mua được cuốn sách đó tại Bookshop ở đường Ngô Đức Kế Sài gòn với cái giá «cắt cổ». Mừng thì mừng thật nhưng ruột đau như cắt! Sau năm 75 tôi có tìm được một bản dịch tiếng Việt cuốn sách này do một số giáo sư toán ở miền Bắc dịch. Tôi chú ý đến bản dịch này là để học những thuật ngữ toán học tiếng Việt. Tôi có suy nghĩ: cả đến miền Bắc mà người ta cũng biết đến cuốn sách này thì quả là cuốn sách này thật rất nổi tiếng. Thế đó, tôi  thích học với Gs.Áng và một mình Gs. Áng mà thôi, tuy ngày đó tôi không biết vị trí của giáo sư trong làng toán học Việt Nam và quốc tế. Tiếc là tôi không tiếp tục đeo đuổi việc học đó được vì tôi đã phải trốn học bên ĐHSP là trường điểm danh sinh viên hàng ngày, và cuối năm thì lại không thi được vì trùng vào những ngày thi ở ĐHSP và ĐHVK ; khó khăn lớn nhất của tôi là việc giấy tờ hoãn dịch của tôi «kẹt cứng» bên ĐHSP, tôi không thể coi thường và bỏ ngang việc học bên đó được. Thế nên đành «nửa đường đứt gánh» vậy. Quả thật có những thầy tôi cũng rất kính nể, như cha tiến sĩ ngữ học Lê văn Lý, thầy Dương Thiệu Tống, thầy Giản Chi, thầy Lê Ngọc Trụ, thầy Nguyễn văn Trung, thầy Trần Thái Đỉnh, thầy Lê Tôn Nghiêm … nhưng hình như vẫn không «lọt vào tầm ngắm» của tôi vì những môn các thầy đó dạy lúc ấy chưa phải là những đề tài tôi quan tâm chú trọng. Tôi có nghe nói về cha Kim Định và đã đọc các tác phẩm của cha, nhưng tiếc là tôi không có duyên học giờ nào của vị giáo sư triết gia này. Cũng nói thêm là vào thời kỳ đó triết học và văn học Tây phương ở miền Nam đang độ phát triển và chín mùi nhất. Vì theo «xu hướng thời đại» tôi cũng có đọc sách triết học và văn học hiện sinh, thậm chí tôi còn ghi danh học mấy chứng chỉ như: «Lịch sử Triết học Tây phương», «Đạo đức học», «Luận lý-Siêu hình». Tôi có học với thầy Đỗ Khánh Hoan, học nhiều giờ là đàng khác, có đọc những tác phẩm dịch thơ Tagore của thầy, nhưng sao tôi vẫn thấy đó là chuyện «cực chẳng đã», tôi vẫn thấy đọc thơ Tagore trong bản tiếng Anh hay hơn. Cái cảm giác «cực chẳng đã» này về sau khi tôi dạy tiếng Anh cho học sinh tôi lại nhận ra. Lúc ấy và cả bây giờ khi dạy tiếng Anh tôi thường liên tưởng đến người Anh, người Mỹ dạy tiếng Việt.

Vì không thỏa mãn với những gì học chính khóa ở các trường Đại Học cho nên tôi mới tìm cách tự học. Tự học tôi muốn nói ở đây là hoàn toàn chủ đạo, chủ động ở tôi cả. Tự học ở đây không có nghĩa là không có thầy. Phải có thầy. Vì «không thầy đố mày làm nên». Nhưng thầy do tôi chọn và thầy ở đây rất đa dạng. Trong đó phải kể đến sách vở là những vị thầy «phổ biến» nhất của người tự học. Trung tâm Đắc Lộ nói chung và Cư xá Đắc Lộ nói riêng là môi trường rất tốt để tôi tự học. Trung Tâm Đắc Lộ lúc đó gồm có một thư viện, một đài truyền hình và một cư xá sinh viên. Cư xá sinh viên là một dãy nhà ba tầng, nhưng có không đến 50 mươi sinh viên thuộc nhiều phân khoa khác nhau, trong đó chỉ một phần năm là sinh viên Công giáo. Một bất ngờ đối với nhiều người. Và ở ngay trong Trung tâm có khoảng mươi linh mục Dòng Tên (Jésuites) thuộc nhiều quốc tịch. Trong số các cha Dòng Tên ở đây tôi chú ý nhất là Linh mục M.J.Lichtenberger, một nhà khoa học về phôi sinh học, giáo sư của Đại Học Y khoa Sài gòn. Cha có nghiên cứu về vân (chỉ) tay. Tôi có đọc trên tờ Science et Vie, số 675 tháng 12/73  một bài viết về công trình nghiên cứu của cha Lichtenberger về việc tính tỉ lệ độ dài cánh mũi của vợ chồng có thể đoán trước một cách khoa học bố mẹ sẽ sanh được nhiều  trai hay nhiều gái. Một bài nghiên cứu độc đáo, và rất «lạ đời». Và bản thân tôi thích những chuyện «lạ đời» như vậy. Tiếc là tôi không được học với cha! Và người thứ hai tôi đặc biệt kính nể, đương nhiên là giám đốc Cư xá Đắc Lộ của chúng tôi. Linh mục Henri Forest. Một người Canada vóc dáng to cao, toát lên trên gương mặt sự bản lĩnh, nghị lực, sự nghiêm nghị và…tình yêu thương. Tôi còn tìm thấy ở cha sự từng trải nữa. Các thế hệ sinh viên Cư xá luôn hãnh diện về vị giám đốc của mình. Và tất cả anh em chúng tôi đều nhìn nhận vị giám đốc này quả đúng là một người cha. Phần tôi, ngoài rất nhiều kỷ niệm khác, mỗi khi nghĩ về cha Henri Forest tôi đều nhớ lại ngay ba sự việc. Sự việc thứ nhất xảy vào một buổi chiều lúc tôi đang ngồi đọc báo trong salon của Foyer. Một bóng người cao lớn đi ngang qua cửa, rồi người đó quay lại và trước mặt tôi là cha Henri Forest. Cha nói: «Tại sao con không bật đèn lên? Con phải giữ đôi mắt của con chứ. Còn dùng đến chúng lâu dài nữa chứ.» Sự việc thứ hai: sau khi đã mỏi mệt ngồi học trong phòng, tôi mới đi thư giản bằng cách mò lên Thư viện của Trung tâm, kiếm một chỗ ngồi rồi không phải để đọc hay để học mà để «rửa mắt». Không hiểu sao lúc đó tôi lại thấy bóng dáng cha Henri Forest trước cửa phòng đọc của Thư viện. Trưa hôm đó giám đốc Cư xá gọi tôi lên «trình diện». Cha nói: «Tại sao con lên ngồi ở đó. Con có biết con ngồi ở đó là chiếm mất một chỗ của người khác không? Chỗ đó đâu phải là chỗ của con.» Và tôi đã hiểu vì sao các anh sinh viên của Thư viện Trung tâm đứng ngoài sân bóng rỗ không được phép vào chơi trong sân trong khi trong sân chỉ có một sinh viên của Cư xá. Sau đó tôi phải nộp một khoản tiền phạt, anh em trong Foyer chúng tôi thường gọi là amende. Vâng. Ở đây thường phạt như cảnh sát phạt, tức phạt bằng tiền. «Có thực mới vực được đạo.» Có phạt tiền như vậy mới «nhớ đời». Mới tởn! Sự việc thứ ba là vào tháng tư năm 75. Sau khi gia đình tôi «bỏ của chạy lấy thân» vào tới Sài gòn thì «sạch sành sanh». Tôi đến gặp cha Henri Forest ở Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh tại đưòng Hai Bà Trưng Sài gòn. Lúc ấy cha Henri Forest đã về làm bí thư cho Khâm Sứ Tòa Thánh Henri Lemaitre. Tôi có than phiền lo sợ về sự mất tự do. Cha Henri Forest cho tôi một thông điệp nhớ đời: «N’oublie pas que tu as LA LIBERTÉE INTÉRIEURE. Personne ne peut l’enlever.» Bây giờ tôi vẫn chiêm nghiệm câu nói này. Sau đó cha có đưa tôi một phong bì. Có 100.000 đồng trong đó! Tôi biết rất rõ giá trị của những đồng tiền này vào lúc đó và trong hoàn cảnh gia đình tôi khi ấy. Chuyện bây giờ mới kể! Cha Henri Forest là như vậy. Không cần nói thêm gì nữa.

Về Foyer Đắc Lộ thì còn nhiều chuyện để nói. Ở đây tôi chỉ muốn nói đến bản sắc (identité) của nơi này mà thôi. Foyer Đắc Lộ đã chọn một câu nói của Thánh Phanxicô Xaviê làm tôn chỉ: ESTO VIR. «Hãy là người». Thật là nhân bản và cũng thật là nhân văn. Hàng ngày anh em sinh viên của Foyer đều nhìn thấy tôn chỉ này, và mỗi người có mang một cái «insigne» nhỏ trên ngực. Đây không phải là một hotel, như lời cha giám đốc đã khẳng định, mà là một trung tâm giáo dục, một nơi để sinh viên làm việc. Việc của họ là học hành, là rèn luyện mình thành người, những người có năng lực, những người ưu tú, không ích kỷ riêng tư nhưng hữu ích cho xã hội Việt Nam, một xã hội hãy còn nghèo nàn lạc hậu. Các sinh viên của Foyer làm việc trong những điều kiện đầy đủ nhất và tốt nhất. Đó cũng là chủ trương giáo dục của Dòng Tên. Có rất nhiều người nhìn thấy điều kiện làm việc của sinh viên ở đây đầy đủ và quá tốt như thế sanh ra nghi kỵ nghi ngờ. Họ đâu biết rằng tuy chén bát trông sạch sẽ sang trọng như thế nhưng những thức ăn trong những chén bát ấy rất bình thường. Họ đâu biết rằng các sinh viên thường đi làm công tác xã hội ở những khu dân cư nghèo, hớt tóc, tắm rửa cho các trẻ em, khám bệnh, phát thuốc cho bệnh nhân và người già. Và họ đâu biết rằng hàng tuần vào tối Chủ nhật, trong khi có thể các sinh viên khác đang vui chơi giải trí ở đâu đó, thì tất cả sinh viên của Foyer từ anh sinh viên năm thứ nhất cho đến anh sinh viên Y khoa năm thứ sáu sắp ra trường, tất cả tụ họp tại salon để nghe cha giám đốc Foyer giảng dạy về đạo đức, giảng dạy về học làm người. Và anh em sinh viên sống với nhau như anh em, không phân biệt thành phần, tôn giáo, ngành học. Vì thế anh em thích dùng từ Foyer hơn từ Cư xá; Foyer có cái hơi ấm gia đình hơn. Hiện nay không còn FAR nữa chỉ toàn là AFAR. Anh em đang chuẩn bị cho ngày kỷ niệm 50 năm thành lập Foyer Alexandre de Rhodes. Đó sẽ là một ngày hội ngộ lớn của «con cái» cha  Henri Forest.

Cách đây mươi năm, tôi có dạy tiếng Việt cho một sinh viên người Đức, cô Viola, nghiên cứu sinh đang viết luận án tiến sĩ về đề tài địa lý kinh tế Việt Nam. Cô học tiếng Việt với tôi trong ba tháng. Cuối kỳ học, giáo sư bảo trợ của cô có qua thăm Việt Nam mà cụ thể là Nha Trang. Cô có nhờ tôi giới thiệu Tháp Po Nagar Nha Trang cho vị giáo sư tiến sĩ địa lý học này nghe. Sau khi tôi giới thiệu về Tháp Po Nagar trong hai tiếng đồng hồ bằng cái tiếng Đức học được ở những lớp tiếng Đức tại Trung tâm Goethe Sài gòn trong ba năm ở Cư xá Đắc Lộ và học các Đại Học ở Sài gòn, ngài giáo sư Frederik mới hỏi tôi: «Chắc ông có đi học ở nước ngoài? » Trả lời: «Chưa lần nào.» Hỏi: «Vì sao không đi học nước ngoài mà ông biết nhiều như vậy?» Nghe câu hỏi đó tôi đã ngừng lại hơi lâu, không phải để tìm câu trả lời nhưng vì tôi đang bận nhớ lại Tiểu chủng viện Sao Biển Nha Trang, Trường Thiên Hựu Huế, Trường Adran Đà Lạt, các Trường Đại học ở Đà Lạt và Sài gòn, và Cư xá Đắc Lộ Sài gòn, cùng với các thầy giáo tuyệt vời của tôi và hai vị ân nhân «không lời nào tả xiết» là Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận và Cha Henri Forest.

Advertisements

2 thoughts on “TỰ THUẬT 3”

  1. Giao su Tien si Tran van An,truoc co day Lasan Adran Dalat,thoi su huynh Berna Le van Tan,lam hieu truong,nay cung lam viec cho NASA
    Tran Van An,NASA,PhD,Grand PhD top world Scientists
    atranvax@yahoo.com

  2. Bai tu thuat cua thay rat hay, rat loi cuon nguoi doc, mac du em ko hieu het tu ngu nuoc ngoai, nhung no loi cuon em doc het bai viet cua thay, co le 1 phan do em la nguoi cong giao.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s