SINH HOẠT CỦA NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN TRONG BỐI CẢNH CÁC DI TÍCH

SINH HOẠT CỦA NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN TRONG BỐI CẢNH CÁC DI TÍCH

Sử Văn Ngọc

Văn hóa Chăm được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu bắt đầu từ thế kỷ XIX, đặc biệt là các nhà khoa học thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO). Rất nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu về văn hóa Chăm đã được công bố qua sách báo. Đến năm 2002 có 2.278 công trình nghiên văn hóa Chăm về các lĩnh vực: lịch sử, ngôn ngữ, bia kí, khảo cổ, tôn giáo, phong tục tập quán, kiến trúc, điêu khắc…(1). Điều đó đã khẳng định văn hóa Chăm rất phong phú và đa dạng.

Trong bài viết này chúng tôi giới thiệu khái quát đặc điểm cư trú của người Chăm ở Việt nam, đặc biệt dựa trên tôn giáo, tín ngưỡng cùng với đội ngũ chức sắc, di tích cùng với hai dòng sông lịch sử và các lễ hội của người Chăm Ninh Thuận.

Người Chăm ngày nay là một dân tộc ít người trong 54 dân tộc ở Việt Nam. Hiện nay dân số người Chăm là 132.873 người (2), họ cư trú ở các tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Thành Phố Hồ Chí Minh, An Giang…Tiếng nói của người Chăm gần gủi với tiếng nói của tộc người Mã Lai Đa Đảo (trong đó có Churu, Raglai, Êđê, Giarai). Căn cứ theo địa bàn cư trú (vùng miền) và ảnh hưởng tôn giáo, người Chăm có ba vùng sinh hoạt văn hóa khác nhau.

Người Chăm ở Bình Định và Phú Yên (ngày xưa là xứ Vịjaya ), thường gọi là Chăm Hroi, không theo tôn giáo nào, chỉ theo tín ngưỡng đa thần và tục thờ cúng ông bà tổ tiên. Sinh hoạt văn hóa của họ gần gủi với tộc người Bana và tộc người Trường Sơn Tây Nguyên. Khi qua đời họ làm lễ padhi atau (tang ma) rồi mới chôn. Họ có nhà mồ và tục chia của; khu nghĩa địa gọi là làng ma (palei atau).

Người Chăm ở Nam Bộ đa số theo đạo Hồi Islam gọi là Chăm Islam có cùng nguồn gốc với  người Chăm Hroi  và người Chăm xứ Panduranga nhưng không sử dụng chữ Chăm Akhar thrah, mà chỉ sử dụng chữ Javi (akhar Javi). Chúng tôi sẽ trình bày sinh hoạt văn hóa của họ ở phần sau.

Người Chăm Ninh Thuận và người Chăm Bình Thuận (ngày xưa là xứ Panduranga) có khoảng 100.000 người, có sinh hoạt văn hóa giống nhau. Trong bài này, chúng tôi chỉ đề cập về người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận vì họ còn bảo lưu nét đặc thù văn hóa riêng của dân tộc được phản ánh qua câu: Akaok Panrang, talang Parik, kalik Pajai, takai Pacam, nghĩa là đầu Phan Rang, xương Phan Rí, da Malâm, chân Pacam (3).

Ninh Thuận là một tỉnh có người Chăm sinh sống đông nhất ở Việt Nam nước ta, 63.359 người (4). Họ cư trú ở 29 làng thuộc các huyện: Ninh Phước, Ninh Sơn và Ninh Hải. Đời sống kinh tế chủ yếu dựa vào nghề sản xuất nông nghiệp lúa nước, nương rẩy, chăn nuôi gia súc gia cầm.

Về đời sống tinh thần, họ theo một trong hai tôn giáo: Bàlamôn giáo và Hồi giáo Bàni; một số ít theo Hồi giáo Islam.

Cộng đồng người Chăm theo Balamôn giáo được gọi là người Chăm Ahiêr. Đàn bà mặc áo dài truyền thống chui đầu (ao luak), cổ trái tim, màu do sở thích, đầu quấn khăn (ikak akhan haluh). Đàn ông mặc áo bà ba, mặc chăn (mbaik akhan), đầu quấn khăn (ikak tanyiak). Nam nữ đều ăn trầu; nam còn hút thuốc lá nữa. Trong lễ tang họ mặc trang phục trắng.

Bia Võ Cạnh (Phú  Vinh), Vĩnh Xương, Khánh Hòa vào thế kỷ thứ II sau Công Nguyên ghi bằng Phạn ngữ và thấm nhuần giáo lý nhà Phật. Điều này cho thấy đạo Phật đã được truyền bá  vào Champa từ rất sớm và người Chăm đã tiếp thu văn hóa Ấn Độ từ lâu đời. Đồng thời Bàlamôn giáo cũng đã đồng hành cùng với văn minh Ấn Độ thâm nhập Champa, nhưng tôn giáo này theo thời gian đã được bản địa hóa, và từ đó đến nay nó đã trở thành một tôn giáo mang màu sắc tín ngưỡng dân gian của một đại bộ phận người Chăm gọi là người Chăm Ahiêr.

Hệ thống thần linh Brahma, Vishnu, Siva, được người Chăm tiếp thu từ Ấn Độ, đã mang tên thần bản địa: Po Sapajieng (Brahma), Po Inư Nagar (Vishnu), Po Sapalai (Siva). Theo quan niệm của người Chăm thì Po Sapalai (Siva) có quyền năng hơn cả: Po Sapalai sa-ai Po Sapajieng có nghĩa là thần Hủy Diệt anh thần Sáng tạo. Và các thần này được biểu hiện bằng nhiều hình thái khác nhau qua biểu tượng Linga Yoni (dương, âm vật). Về sau cách thờ thần ở các tháp cũng đã biến đổi, đặc biệt là ở các tháp Chăm Ninh Thuận. Các thần Ấn Độ giáo đã được người Chăm đồng hóa với các thần vua của dân tộc. Họ thường thờ các vị thần gắn liền với Linga Yoni, biểu hiện rõ nét nhất là ở Mukha Linga Po Klaong Girai, Po RamêPo Inư Nagar.

Đội ngũ chức sắc Chăm Ahiêr (Bàlamôn), gọi là Ra Kakuek Mah có nghĩa người điện vàng, dân gian thường gọi là Baséh. Từ gọi này đã nói lên vị trí của họ rất quan trọng trong xã hội Chăm. Họ là chỗ dựa vững chắc cho mọi tầng lớp xã hội Chăm (halau dang). Đặc biệt, chức sắc Baséh được cha truyền con nối nhưng phải hội đủ các điều kiện sau đây:

Phải là người trong sạch cả thể xác lẫn tâm hồn.

Không tật nguyền, ăn nói lưu loát.

Có bản chất thông minh, thể hiện bằng tai to mặt lớn, mắt đen láy.

Chức sắc Baséh có 3 đẳng cấp được gọi bằng những tên khác nhau theo từng thời kỳ như sau:

Baséh Ndung Akaok còn gọi Pahuer pabah padueh akhar có nghĩa là xông miệng học chữ (trong thời kỳ mới làm lễ bới tóc nhập môn), Baséh Liah (trong thời kỳ học kinh kệ, bùa chú), và Baséh Puah (khi đã thành chính thức).

Tapah hay còn gọi Bac là đẳng cấp cao trợ lý và kế thừa khi Po Adhia qua đời. Mỗi đẳng cấp có lễ tôn chức khác nhau.

Po Adhia (cả sư), do hội đồng chức sắc bầu ra và chỉ làm lễ thánh tẩy (panoja) để nhận chức. Po Adhia có nghĩa là thiền sư, là người lãnh đạo tinh thần tối cao và có quyền giữ vật tổ, gọi là Ba Ginrac và các tập kinh (katiem) thường gọi là agal praong có nghĩa là kinh lớn để làm lễ theo lễ nghi tôn giáo được truyền từ đời này sang đời khác, và có quyền soạn thảo lịch và thông báo lịch trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng.

Đẳng cấp Baséh được thể hiện ở khăn lễ (akhan Puah). Khăn lễ của Ndung Akaok và Liah có 5 sọc đỏ (đầu 2, đầu 3). Khăn lễ của Baséh Puah có 7 sọc đỏ (đầu 3, đầu 4). Khăn lễ của Tapah và Po Adhia có 9 sọc đỏ (đầu 4, đầu 5).

Chức sắc Baséh bắt buộc phải để tóc bới, thậm chí khi chải đầu tóc rụng phải gói vào bị, nếu nhiều thì làm phép thả xuống sông. Trang phục màu trắng gọi là Ao Kakuek. Hai bên hông có 3 sợi dây may bằng vải để cột thay nút. Họ quan niệm áo là da của Po Dêbita Thuer, nên khi rách không được vứt bỏ, phải gói để làm phép thả xuống sông. Trong sinh họat đời thường chức sắc Baséh có nhiều kiêng kỵ. Kiêng thịt bò, chó, nai, chuột, ếch, lương, cá trê, thịt súc vật chết tự nhiên (matai bhao). Kiêng rau sam, bí đao, rau díp cá, chuối hột. Khi ăn phải ăn bóc. Bữa ăn chiều, phải ăn trước khi mặt trời lặn vì họ quan niệm mặt trời lặn là thế giới của ma quỷ.

Chức sắc Baséh không có thánh đường hay chùa riêng; ông ta ở nhà như mọi người. Đền tháp (như đền Po Inư Nagar, tháp Po Klaong Girai, Po Ramê) là nơi thực hiện các lễ nghi tín ngưỡng của cộng đồng.

Người Chăm quan niệm chức sắc Baséh là hiện thân của Po Sapalai (thần Hủy Diệt) nên kỵ tham gia lễ dựng nhà mới, đám cưới hay đi thăm người bệnh…và chỉ có nhiệm vụ thực hiện lễ tang ma (đưa linh người quá cố về cõi vĩnh hằng), lễ dựng kut, nhập kut.

Người Chăm theo Hồi giáo ở Ninh Thuận có 2 bộ phận: Hồi giáo Bàni và Hồi giáo Islam.

Người Chăm theo Hồi giáo Bàni gọi là Chăm Awal hay Chăm Bàni. Họ có khoảng 20.000 người, cư trú ở 7 làng, mỗi làng có 1 thánh đường (sang Magik). Sang Magik là nơi sinh hoạt lễ nghi tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng làng. Do vậy người Chăm có câu Tajuh halau klau bimong có nghĩa là Bảy đầu(=thánh đường) , ba tháp.

Trang phục của người Chăm Awal khác trang phục của người Chăm Ahiêr ở điểm đàn bà quấn khăn 2 đường biên có 2 sọc đỏ, tiếng Chăm gọi là akhan mbram.

Đội ngũ chức sắc Hồi giáo Bani có tên gọi chung là Acar; gồm có 5 đẳng cấp: Jama-ah (mới nhập đạo), Madin, Katip hay Khotip, ImâmPo Gru. Mỗi đẳng cấp có lễ tôn chức riêng. Po Gru là người lãnh đạo tối cao chủ trì thánh đường. Chức sắc Acar bắt buộc phải cạo đầu và râu, nếu để thì theo luật đạo gọi là haram có nghĩa là ô uế. Trang phục bắt buộc phải màu trắng, áo chui đầu (ao luak), cổ hình lá đa (hala bơt), thường dài tới đầu gối. Sinh hoạt đời thường có nhiều kiêng kỵ như chức sắc Baséh. Khi đi vệ sinh tiểu, đại tiện phải ngồi xuống và đọc kinh xin phép thần Thổ Địa, và phải dùng nước rửa. Nếu vi phạm thì theo giáo luật gọi là Aih tham ma-ik tham có nghĩa là Tiêu hôi tiểu khai, sẽ bị thần linh quở phạt, phải làm lễ tẩy thể (thao bah), thường được ví von qua câu: Sa mbeng aih sapluh mbeng rao có nghĩa là một lần ỉa mười lần rửa. Kiêng ăn thịt heo, dông, chuột, chó và thịt gia súc chết tự nhiên (matai bhao). Ăn bóc. Bữa cơm chiều phải ăn trước khi mặt trời lặn.

Kinh luật của Acar, gọi là Kura An hay Kura Ưn, viết bằng chữ Arập, chỉ chức sắc mới đọc và học thuộc để làm lễ, được xem như kim chỉ nam trong sinh hoạt lễ nghi tôn giáo. Tập kinh và gậy thần (Agai Bhong) được xem là vật thiêng cho nên được cất giữ trong thánh đường; chỉ được mang ra khi có lễ lớn.

Hồi giáo Islam ở tỉnh Ninh Thuận hiện nay có khoảng 2.000 người. Bộ phận này tách ra từ Hồi giáo Bàni ở các làng (palei) Văn Lâm (Ram), Nho Lâm (Ram 1), Phước Nhơn (Pamblap Birau) và An Nhơn (Pamblap Klak). Mỗi làng có một thánh đường để sinh hoạt lễ nghi tôn giáo. Người khởi xướng đầu tiên là ông Từ Công Xuân, thôn Văn Lâm, xã Phước Nam, Ninh Phước, Ninh Thuận.

Cộng đồng người Chăm theo đạo Islam, gọi là Chăm Islam, không giữ tục thờ cúng ông bà tổ tiên (adat muk kei) và những lễ nghi tín ngưỡng bản địa. Họ tôn thờ đấng Allah duy nhất và Nabi Muhamad, cầu nguyện 5 lần kinh (sambayang) mỗi ngày tại thánh đường, thực hiện nghiêm túc bổn phận nhịn ăn trong tháng Ramadan. Phúc lớn trong đời của người Chăm Islam là 1 lần hành hương thánh địa Mecca (Makah). Người đi hành hương về được mang tước hiệu Hadji và được kính trọng. Kinh Quran là kim chỉ nam, chuẩn mực để phân định các vấn đề đạo đức trong sinh hoạt văn hóa tinh thần và được tín đồ xem như bùa hộ mệnh.

Hồi giáo Bàni và Islam tuy cùng tôn thờ Allah và Nabi Muhamad nhưng không cùng sinh hoạt chung kinh luật và lễ nghi tôn giáo.

Hai tôn giáo Bàlamôn giáo và Hồi giáo Bani được người Chăm tiếp thu từ rất sớm nhưng chỉ dừng lại ở lễ nghi tôn giáo, chưa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh, cho nên người Chăm còn tin vào các thế lực siêu nhiên thần bí khác. Do vậy, ngoài chức sắc tôn giáo (halau danang agama) còn có chức sắc tín ngưỡng (halau danang ngak yang parang bingu) như: Kadhar, Pajau, Maduen, Ka-in, Muk Rija và Gru Kaleng. Và họ đã dung hòa hai chức sắc Baseh, Acar theo quan niệm âm dương. Baseh là dương (đàn ông), Acar là âm (đàn bà). Các chức sắc tín ngưỡng đã làm các lễ nghi tín ngưỡng cho cả cộng đồng người Chăm Ahiêr và người Chăm Awal. Chính bộ phận này đã tạo cho nền văn hóa Chăm phong phú, đa dạng, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước.

Ninh Thuận, nhìn dưới góc độ địa văn hóa theo người Chăm, là vùng đất hội đủ ba yếu tố thiêng: Núi, Sông (đồng bằng) và Biển. Đó là vùng đất sản sinh lễ hội Chăm.

Núi, phía tây là dãy Trường Sơn tiếng Chăm gọi Cek Muk Juk có nghĩa là núi Bà Đen tên tục của Bà Tổ được người Chăm gọi với vương hiệu là Po Inư Nagar (bà Chúa Xứ), không những là nơi thiêng liêng mà còn là kho lương thực, thực phẩm của họ (hái lượm, săn bắt thú rừng) và họ đã coi đó là chỗ dựa cả tinh thần lẫn vật chất (cek danang suan thap).

Sông, có 2 sông lớn: Sông Cái và Sông Lũy. Hai con sông này được người Chăm xem là Kraong Caik Rai có nghĩa  là Dòng Sông Lịch Sử của họ.

Sông Cái (Kraong Binai), còn gọi là Kraong Kadeng có nghĩa là sông lớn, bắt nguồn từ núi Đa Nhim (cek Ba Nyim) thuộc địa phận Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Dòng sông dẫn nước tưới cho vùng đất canh tác phía bắc của tỉnh bằng  công trình thủy lợi của Po Klaong Girai (1105-1205) qua hệ thống đập Lâm Cấm (banek Tabeng) và đập Nha Trinh. Đập Nha Trinh dịch trại từ tiếng Chăm gọi Banek Pasa bira Caklin có nghĩa là đập Pasa vai Caklin tên ông bà nuôi Ngài lúc còn nhỏ.

Theo truyền thuyết, trước khi xây dựng đập Nha Trinh, Ngài làm lễ kết bè chuối thắp nến sáp và khấn thần linh cho biết nơi nào thuận lợi làm đập vững chắc thì cho bè chuối chìm tại đó, khấn xong Ngài thả bè chuối trên mặt đập Lâm Cấm (tada banơk binơk Tabeng), bè trôi ngược dòng và chìm tại nơi xây dựng đập hiện nay, cách Tháp Chàm khoảng 5km đường chim bay về phía tây nam.

Theo tư liệu cổ Chăm, Po Kalong Kasait là người đốc thúc thi công xây dựng đập. Một hôm Po Klaong Girai đi giám sát thấy Po Klaong Kasait đánh lưới bén trên mặt đập đang gở cá rô dính lưới nhưng không có bị đựng nên Po Klaong Kasait cắn cá bằng miệng, thấy vậy Ngài cười rộ lên và Po Klaong Kasait cũng cười theo làm cá rô tuột vào mắc kẹt trong cổ hộng không lấy ra được. Ngài phải dùng phép thuật mới lấy ra được. Trong cơn tức giận Po Klaong Kasait đã nguyền rủa rổ cá rô không được sinh sản từ mặt đập Nha Trinh trở lên nguồn. Do lời rủa hay do môi trường tự nhiên, tuyệt nhiên ngày nay không có con cá rô nào sinh sản từ đập Nha Trinh trở lên (5).

Khi xây dựng đập, Ngài cho đào 2 con mương gọi là kinh Bắckinh Nam, cho triệu tập 2 phái nam nữ cùng thi công và ra hạn thời gian hoàn thành.

Kinh Bắc (phía bắc đập) do phái nữ thi công nên gọi là mương Cái (libaong kamei) và kinh nam (phía nam đập) do phái nam thi công nên gọi là mương Đực (libaong likei). Trong thời gian thi công, phái nữ biết mình sức yếu nên phân công nhau làm việc ngày đêm, ban đêm vừa làm vừa hát véo von, tiếng hát đã thu hút các chàng trai bên kinh nam đến cùng hát và cùng đào thâu đêm, sáng hôm sau quá mệt nên chểnh mảng việc đào mương; cuối cùng phái nữ hoàn thành đúng thời hạn còn phái nam bị dở dang, sợ nhà vua phạt tội họ bỏ trốn vào rừng nhưng đã được nhà vua tha tội chiêu an cho trở về (6).

Hệ thống đập trên đã mở mang diện tích canh tác lúa nước giải quyết nạn đói. Để nhớ công ơn Ngài và ông bà nuôi Ngài cộng đồng người Chăm vùng sông Cái tổ chức lễ tế trâu theo định kỳ 7 năm một lần; kinh phí trích từ quỷ hoa lợi ruộng hương hỏa của các làng Chăm.

Đến năm 1965 tại đầu nguồn núi Đa Nhim người Nhật đã xây dựng một đập nước gọi là đập Đa Nhim, dùng thác nước tạo thành hệ thống điện gọi là Điện Đa Nhim cung cấp điện cho cả nước để bồi thường thiệt hại chiến tranh tại Việt Nam. Và từ đó kinh Nam tức mương Đực được thi công để dẫn nước tưới cho các vùng đất canh tác phía nam gồm các xã Phước Sơn, Phước Thái, Phước Hữu, Phước Dân và An Hải thuộc huyện Ninh Phước. Con mương này gọi là kinh nam, dân gian còn gọi là mương Nhật.

Sông Lũy tiếng Chăm gọi là kraong Biuh (7), dân gian gọi là sông Diễu, bắt nguồn từ núi Kei Kamao (8), do suối Là-A (craoh La-A) và suối Giá (craoh Njak)  hiệp lại tạo thành một vịnh sâu, tiếng Chăm gọi là ateng. Theo truyền thuyết (dam nưi) sau khi xây dựng hoàn thành các ngôi tháp vùng Phan Rang (Pandarang) thì các thợ (ragei) mang lễ vật đến vịnh này làm lễ tạ thần linh nên về sau gọi là Ateng yang có nghĩa là Vịnh thần. Dòng sông này mang nước tưới cho các vùng đất canh tác phía nam của tỉnh do công trình thủy lợi dưới triều đại vua Po Ramê (1627 – 1651) bởi hệ thống đập Cà Tiêu (Katêw), Chà Vin (Caping), Ma Rên (Marên), Kiá (Kraik), Đá (Patau), Ma Giăng (Cadan) và Tà Nông (Kanong).

Trong hệ thống đập nói trên quan trọng nhất là đập Kraik tiếng Chăm gọi là banek Riya bira Kraik có nghĩa là đập lớn vai cây lim xanh. Theo truyền thuyết, lúc còn nhỏ Ja Kathaot ở đợ với vua Po Klaong Halau có vương hiệu là Po Mah Taha. Một hôm đi chăn trâu nhân buổi trưa ngủ dưới gốc cây lim xanh ông được con rồng xuất hiện liếm rồi ẩn vào cây lim xanh, từ đó Ja Kathaot trở nên khôi ngô tuấn tú và thông minh hơn người về sau được Po Mah Taha gã công chúa là Bia Su Cih, sau vua cha băng hà Ja Kathaot được tôn lên ngôi vua trị vì vương quốc Chăm 25 năm (1727-1751) lấy vương hiệu là Po Ramê. Do vậy, các làng vùng sông Lũy làm lễ tế trâu theo định kỳ 7 năm 1 lần để nhớ ơn Ngài và thần cây Lim Xanh đã sản sinh người tài trị cho vương quốc; kinh phí trích từ quỷ hoa lợi ruộng đất của làng. Hồ Ateng Yang, ngày nay được Nhà Nước đầu tư xây dựng thành hồ chứa để ngăn lũ và điều tiết nước tưới cho các đập nói trên; hồ có tên tiếng Việt là Hồ Tăng Giang.

Hai dòng sông nói trên được người Chăm xem  như hai dòng sữa mẹ nuôi sống họ đã được lưu lại cho hậu thế sử dụng đến ngày nay. Và hai dòng sông này đã chia người Chăm tỉnh Ninh Thụân thành hai vùng gọi là: Papraong Pa Biuh.

Papraong có nghĩa là lớn, được hiểu là giàu có. Hệ thống nước sông Cái, chủ động tưới cho đồng hai vụ của các làng (palei): Hoài Trung (Baoh Bani), Ma Hê(Pan Nja), Chất Thường (Baoh Gana), Qua Quá (Cuah), Hiếu Lễ (Caok), Cát Bồi (Caoh Glaong), Phước Đồng (Mblang Kacak), Phú Nhuận (Baoh Hadeng), Lương Tri (Cang), Thành Ý (Tabeng), An Nhơn (Pamblap Klak), Phước Nhơn (Pamblap Birau) và Bĩnh Nghĩa (Bal Riya). Do thời cuộc chiến tranh có một số làng bị điêu, còn lại một ít sáp nhập vào các làng phụ cận: Ma Hê (Pan Nja), Qua Quá (Cuah), Cát Bồi (Caoh Glaong).

Trong các làng kể trên quan trọng nhất là làng Bĩnh Nghĩa (palei Bal Riya). Bal Riya có nghĩa là kinh đô lớn. Hiện nay trong làng có đền thờ Po Bin Nâthuer (mà người ta cho là Chế Bồng Nga) và có một bia kí dân gian gọi là Bia Chế Bồng Nga (các nhà bia kí của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp không hề biết bia này). Các lễ tế thần trong năm của làng gồm có: Po Bin Nâthuer, Po Bia Chuai, Palao Rija Sah, Po Nâgar, Po Riyak lễ Ikak ghak ikak lamah (lễ tế thần cai quản đường sá). Gần làng có thao trường (mblang padhik) rộng khoảng 100ha để luyện binh của Po Bin Nâthuer, dân gian gọi là Đầm Vua, ngày nay đã trở thành ruộng muối. Gần khu vực này có Núi Cà Đú (Cek Kanduk), dưới chân núi Cà Đú về hướng nam có một bia kí chữ Chăm cổ gọi là Bia Cà Đú (ký hiệu C123), còn gọi là Bia Đá Nẻ II (Patau Tablah dua).

Pabiuh có nghĩa là xua đuổi, ở đây có hàm ý là vùng khô cằn, nghèo đói. Hệ thống nước sông Lũy, chỉ dựa vào nước trời, diện tích canh tác đồng 1 vụ, thường hay mất mùa, phải bương chải kiếm ăn ở các nơi khác. Vùng này gồm các làng :  Bình Chữ (Cakhaok), Như Ngọc (Padra), Xóm Mới (Birau), Hữu Đức (Hamu Tanran), Phất Thế (Mblang Kathéh), Hậu Sanh (Thuer), Vụ Bổn (Cabhan), Ma Vớ (Mabek), Chà Vin (Kaping), Hiếu Thiện (Palao), Văn Lâm (Ram), Nghĩa Lập (Aia Binguk), Phước Lập (Aia Li-U),  Chung Mỹ (Bal Caong), Thành Tín (Cuah Patih), Phước Tường (Binưn),  Tuấn Tú (Katuh)Mỹ Nghiệp (Caklin).

Trong các làng nói trên quan trọng nhất là Palei Bal Caong, có nghĩa là làng kinh đô. Palei Bal Caong, tọa lạc trên một gò đất có tên Mbuen Jamrak, Đồi Jamrak (9), rộng khoảng 100 ha. Hiện nay có nhiều phế tích đổ nát, những đống gạch đã biến mất do bàn tay con người hay bị lẫn vào lòng đất nhưng hồn thiêng của di tích vẫn còn trong địa danh lịch sử, có lẽ đây là thủ phủ Virapura của Panduranga ngày xưa. Phía tây nam có Danao Panrang, Bầu Phanrang, ngày nay gọi là Bầu Trúc, một tên gọi mang tính đặc trưng chỉ 5 vùng Panrang (Phan Rang), Kraong (Lòng Sông), Parik (Phan Rí), Pajai (Ma Lâm), Pacam (Thôn Chăm) của xứ Panduranga (10).

Do thời cuộc chiến tranh, palei Bal Caong đã dời cư 2 lần và hiện nay định cư ổn định tại một nơi khác là làng Chung Mỹ, xã Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, cách Tháp Chàm khoảng 10 km đường chim bay về hướng nam.

Ngày nay, tỉnh Ninh Thuận đã lên thành phố cấp 3, thị trấn Phước Dân đổi thành Khu Phố và palei Bal Caong (tức Chung Mỹ) là khu phố 6.

Hiện nay, palei Bal Caong  có 367 hộ và 1881 nhân khẩu. Đờì sống kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp lúa nước, cả làng chỉ có diện tích ruộng canh tác là 61 ha, trong đó có 48 ha ruộng 1 vụ, và 13 ha ruộng 2 vụ, kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm để làm sức kéo, tăng nguồn thu nhập gia đình và đáp ứng nhu cầu cúng tế thần linh.

Do diện tích ruộng canh tác ít, nên 85 % số hộ sống bằng nghề dệt thủ công truyền thống chăn, thổ cẩm (manhim akhan, jalah jih) để tăng thu nhập kinh tế gia đình (11). Xét về mặt dân cư và kinh tế thì Palei Bal Caong rất khiêm tốn, nhưng trong thi ca lại được khẳng định:

Palei Bal Caong drap kau

Krung mang dahlau pieh kau alin

Alin dom urang halei thau

Tuak di halau yaom yau kapiah

Drap kau caga pablaoh

Pieh alin dom urang klaoh hatai sau kahria...(12)

Làng Bal Caong của cải ta

Từ thưở xưa để lại ta biếu

Biếu những người nào biết

Như mũ lễ đội trên đầu

Của cải ta chuẩn bị sẵn

Để biếu những ai am hiểu biết lo…

Và làng người kinh hiện cư trú trên khu đất cũ của Bal Caong cũng được đặt tên là Phú Quý, điều này cho thấy người đặt tên làng đã nắm được ý nghĩa bài thơ trên.

Và trong tình sử Nai mai mang Makah (13) có đoạn:

Asaih deh palei Bal Caong

Anak ciim tiaong manhi yeng madhir tayah

Bal halei rambung harek karah

Deng asaih duah tali ndap cang thei

Jreng mboh pabung Po Nai

Tian kau tadhiai gilac caong nao tapah…

Ngựa dừng chân làng Bal Caong

Chim khách (Tiaong) kêu quanh lâu đài đổ nát

Kinh đô nào cỏ chỉ mọc sum suê

Dừng ngựa tìm đá bàn đợi ai

Nhìn lên đỉnh núi Po Nai (14)

Lòng ta lại muốn đi tu…

Trong đồng dao (daoh salok) chúng ta cũng thấy nhắc đến tên các làng Chăm thuộc vùng Sông Lũy và Bal Caong được nhắc đến đầu tiên.

Harak Bal Caong

Raong Hamu Craok

Raok Hamu Tanran

Glan pak Thuer

Ruen pak Mabơk

Thơk mbek pak Cabhal

Hal wal pak Palao

Puec sao Aia Binguk

Puec suk Aia Li-U

Mak hu Cuah Patih

Mak abih pak Caklin (15)

Thông tri ở kinh đô Bal Caong

Tiếp nhận ở làng Hamu Craok

Đón rước ở làng Hamu Tanran

Vất vả ở làng Thuer

Ồn ào ở làng Mabơk

Trôi dạt ở làng Cabhal

Chật vật ở làng Palao

Nói khẽ ở làng Aia Binguk

Nói sai ở làng Aia Li-U

Bắt được ở làng Cuah Patih

Tóm hết ở làng Caklin

Hiện nay, trên địa bàn palei Bal Caong có hai di tích: 1 di tích Giếng Nước Thiêng (Bingun Aia Sunit Ginreh)Đá Nẻ (Patau Tablah).

Di tích Giếng Nước Thiêng nằm cách Palei Bal Caong khoảng 200m về hướng đông bắc (dih esan). Trên tảng đá bàn có giếng nước (bingun) nhưng chỉ là dấu vết một vũng nhỏ. Theo truyền thuyết, Ong Pasa Muk Caklin (Ông Pasa bà Caklin) là những người nghèo khổ chỉ biết sống bằng nghề bắt nghêu sò. Một hôm, ông bà đang bắt nghêu ven biển đông, bỗng nghe tiếng hài nhi khóc văng vẳng từ xa, ông bà lần theo tiếng khóc thì có tiếng khóc từ trong bọt nước, ông bà vội lội vào vớt lên thấy một bé gái. Ông bà rất đổi vui mừng bế về nhà nuôi dưỡng chẳng cho ai hay và xem đứa bé là nguồn an ủi lớn lao của tuổi già, nên đặt tên cho đứa bé là Po Ong Po Muk có nghĩa là cục cưng của ông, cục cưng của bà. Cô bé lớn nhanh như thổi giúp đỡ ông bà việc nhà.

Một hôm, cô theo Ông Pasa đi chặt cây làm rào, đến trưa khát nước, cô nói ông đi tìm nước uống. Ông bảo hãy cố nhịn để chặt cây xong về nhà rồi hãy uống, vì dạo này tiết hè không nơi nào có nước. Cô đi quanh quẩn trong rừng thì thấy nước trong xanh trên tảng đá bàn chảy tràn ra, cô uống đả khát rồi lại báo với ông là cô đã tìm thấy nước và dẫn ông đi uống. Hai ông cháu đến nơi thì giếng nước chỉ còn đọng bọt trắng xóa trong vủng.

Ông Pasa biết là điềm lạ nhưng không dám thố lộ cùng ai. Sau khi uống nước, cô cảm thấy trong người khó chịu và bụng càng ngày càng to. Đến ngày thì nở nhụy khai hoa một bé trai nhưng đầy ghẻ lở (pan dan). Sau khi sinh ba ngày thì cô qui thiên (nao thuer) để lại cậu bé cho ông bà nuôi trong cảnh nghèo nàn vất vả và cậu bé được đặt tên là Jataol (16).

Di tích Đá Nẻ (Patau Tablah) nằm cách Palei Bal Caong khoảng 300m về hướng tây nam. Theo truyền thuyết, Jataol và một người bạn tên là Ja Eh Kei đi buôn trầu (ikak hala), trên đường về đến hòn Đá Nẻ thì Jataol bị cảm đau đầu nên nghỉ lại tại đây, nhờ bạn về nhà lấy cơm. Trong lúc Jataol ngủ mê có 2 con rồng xuất hiện liếm Jataol. Khi Ja Eh Kei mang cơm đến thấy ánh hào quang sáng rực ở chỗ Jataol nằm, ông ta tưởng con quái vật đang ăn thịt Jataol, nhìn kỹ thấy con vật đó là con rồng đang liếm Jataol, ông bèn hú lên thì con vật biến vào Đá Nẻ. Ông ta đến nơi vẫn thấy Jataol đang ngủ mê, khi đánh thức Jataol cũng không hay biết chuyện gì đã xẩy ra nhưng trong người cảm thấy khoan khoái lạ thường. Cơm nước được dọn ra trên lá chuối, Ja Eh Kei không dám ăn chung mà nhường cho Jataol ăn trước. Jataol thấy cử chỉ của bạn thay đổi thì nghĩ rằng vì bệnh hoạn mình đã làm phiền khiến bạn không vui.

Ja Eh Kei thưa không phải vậy, rồi kể lại tất cả vụ việc đã xẩy ra. Jataol liền khấn nếu quả đúng như thế thì xin trời đất cho ứng điềm thiêng, rồi dùng ngón trỏ vạch một đường vào lá chuối, tức khắc lá chuối có đường rảnh phân làm hai và mỗi người ăn một phần. Ăn cơm xong Ja Eh Kei cũng nhường cho Ja Taol uống trước; một lần nữa Jataol cầm bầu nước giơ lên khấn nếu ứng nghiệm xin bầu nước hãy phân làm hai, tức khắc bầu phân thành hai phần, phần nhỏ, phần lớn, ông uống rồi đưa cho Ja Eh Kei uống. Vì thế ngày nay lá chuối có đường rảnh và trái bầu có ngấn eo. Sau đó Jataol được tôn lên ngôi vua trị vì vương quốc Chăm 55 năm (1201-1255) có vương hiệu là Po Klaong Girai và người bạn đồng hành với Ngài có vương hiệu là Po Klaong Can (17).

Hiện nay, đồng bào Chăm xem Ngài như vị thần hộ mệnh nên tổ chức lễ tế Ngài theo định kỳ hàng năm vào đầu tháng giêng lịch Chăm, nhưng mỗi địa phương có hình thái lễ khác nhau kể cả chức sắc tế lễ và tên gọi: Po Agha, Po Ong, Po Muk, Nai Mah Jrai…

Palei Bal Caong tổ chức lễ tế Ngài với tên gọi là Po Ong Po Muk. với 2 hình thái khác nhau. Buổi sáng lễ tế Po Ong với lễ vật gồm 1 con dê nướng, bánh bột hấp (kur) do chức sắc Kadhar tế lễ bằng lời khấn (langkar) không có đàn kanhi và không hát bài ca tụng (daoh pamre). Buổi chiều lễ tế Po Muk với lễ vật gồm 1 con gà luộc, cơm canh,  trứng rượu; đồng bào đi dâng lễ bằng chè, xôi tại đá bàn có giếng nước thiêng do thày cúng dân gian làm lễ (18).

Hai làng Chăm Bàni là Tuấn Tú  và  Thành Tín thuộc xã Phước Hải, huyện Ninh Phước thì tổ chức lễ tế Ngài với tên gọi là Po Agha, lễ vật gồm 1 con gà luộc, cơm canh và hoa quả, và lễ diễn ra tại bải biển gọi là Mbaok Din (Sơn Hải), nay thuộc địa phận làng Từ Thiện, xã Phước Dinh, huyện Ninh Phước, do chức sắc Maduen, Ka-In và các nghệ nhân dân gian sử dụng trống Gineng, Baranưng, Saranai và Caing cùng thực hiện (19).

Làng Chăm Bàni Văn Lâm và làng Chăm Ahiêr Hiếu Thiện thì tổ chức lễ tế Ngài dưới gốc cây da nên dân gian gọi  là Yang Jrai có nghĩa là thần Cây Da. Trước ngày diễn ra lễ hội dân làng tập trung làm vệ sinh và đội cát đổ dưới gốc cây dần dần thành bải cát trắng mịn. Chức sắc hành lễ có cả chức sắc Acar và các chức sắc dân gian Mduen, Ka-In cùng với nghệ nhân sử dụng nhạc cụ truyền thống Gineng…

Đá Nẻ không những là một huyền tích mà còn là chứng tích lịch sử Chăm, đó là bia kí Patau Tablah (ký hiệu C17) ghi chiến tích của Sri Jaya Harivarman I.

Ngoài các di tích tháp cổ Chăm (Tháp Hòa Lai, Tháp Po Klaong Girai, Tháp Po Rame), Ninh Thuận còn có các di tích thiên nhiên gắn liền với lễ hội:

Cek Yang Patao

Cek Yang Patao, có nghĩa núi thần vua, là một núi đá thạch anh trắng nên dân địa phương gọi là Núi Đá Trắng. Được cộng đồng người Chăm tổ chức theo định kỳ 7 năm một lần, lễ do điền hộ các đập vùng sông Lũy thực hiện; kinh phí trích từ ruộng hương hỏa. Cụ Thiên Sanh Cảnh, một bậc thầy trí thức Chăm, gọi lễ này là lễ tế Thần Nông Nghiệp (Po Yang Sri).

Lễ vật gồm 1 con trâu trắng và các sản phẩm nông nghiệp. Thời gian tổ chức được phản ánh qua câu: bilan nam yang Takuh, bilan tajuh yang Patao có nghĩa là tháng sáu thần Chuột, tháng bảy thần vua. Chức sắc tế lễ là Ong Pariya Hamu, Kadhar, Pajau. Thời gian là 1 buổi sáng.

Nguồn gốc lễ hội. Truyền thuyết kể rằng một hôm Rak Kaban (chằn tinh) ở đảo Dêwa dạo chơi đến vương quốc Chăm, thấy cảnh núi non hùng vĩ, nhân dân đông đúc gia súc đầy rừng, Rak Kaban tha hồ xơi cả gia súc lẫn con người, quân triều đình đánh không lại, phải nhờ đến hai dũng sĩ (urang pak lima)Kei Glaong Kei Biên đánh với Rak Kaban. Rak Kaban ỷ tài biến hóa và sức mạnh của mình nên thách đấu với Kei Glaong, Kei Biên và với lời cam kết: “nếu ta thắng thì ta sẽ ăn thịt các ngươi và ở lại vương quốc này, nếu thua thì ta sẽ về đảo của ta”. Qua ba hồi chiêng hai bên giao đấu nhau long trời lỡ đất suốt bảy ngày đêm. Kei Glaong và Kei Biên đánh Rak Kaban bị trọng thương. Rak Kaban biết mình không thể thoát chết được nên cầu xin Kei Glaong và Kei Biên ban cho ân huệ cuối cùng là sau khi chết được làm lễ giải thoát bằng 1 con trâu trắng để linh hồn được hóa thiêng xin chuộc lại tội lỗi đã gây cho thần dân bằng cách cho mưa thuận gió hòa, chim chóc, sâu bọ không phá hoại mùa màng. Dứt lời thì Rak Kaban tắt thở, xương hóa thành núi Đá Trắng. Kei Glaong và Kei Biên tâu vua lời cầu xin của Rak Kaban,  vua chuẩn y và cho làm lễ tế Rak Kaban. Từ đó lễ đã trở thành lễ tục của điền hộ vùng sông Lũy.

Trước khi làm lễ tế trâu Núi Đá Trắng, phải làm lễ tế thần Chụột. Nơi tế thần Chuột là một phế tích cách Núi Đá Trắng 800m về hướng nam; đây là phế tích của một ngôi tháp cổ Chăm có bi ký ghi là : Vua Indravarman đã dựng lại ngôi đền vào saka 721 (tức năm 799 sau Công Nguyên). Ngôi đền này trước đó đã bị quân Jawa từ biển vào đốt phá vào saka 709 ( tức năm 787 sau Công Nguyên); đó là đền thờ thần Indrasvara. Cả hai di tích (1 thiên tạo, 1 nhân tạo) đều thuộc phạm vi làng Bình Chữ, xã phước Thái, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Ngày nay, do bàn tay con người di tích này đã trở thành hồ nuôi cá.

Cek Cambang

Cek Cambang, có nghĩa Núi Nạng, gắn liền lễ hội Po Nai.

Po Nai có tên là Nai Tang Ya, là nữ tu sĩ người Chăm, vì tu hành trên núi đắc đạo nên dân địa phương còn gọi Nai Tang Ya Bia Atapah hay Po Cek (thần Núi). Theo truyền thuyết, do tình yêu dang dở giữa Ngài và Kei Kamao (một chàng trai Raglai) nên Ngài bỏ lên núi tu hành.

Kei Kamao có tài và sức mạnh có thể xẻ núi lấp sông. Sau khi Ngài bỏ nhà đi mất tích, chàng đã bấm độn số (panduec Bia Kata) biết Ngài đang tu hành trong một hang đá trên núi, chàng dùng nỏ thần bắn mũi tên công phá ngọn núi tét làm hai như cây nạng, cho nên người Chăm gọi là Cek Cambang. Cek Cambang thuộc địa phận xã Phước Nam, huyện Ninh Phước cách Tháp Chàm 15km về hướng nam. Núi Chà Bang có độ cao 439m so với mặt biển. Nơi thờ Ngài có biểu tượng Linga Yoni bằng đá đen óng ánh cấu trúc 3 tầng, chiều cao 0,57m. Tầng dưới vuông, tầng giữa lục giác, trên cùng là Linga. Ngài được cộng đồng người Chăm xem như vị thần hộ mệnh. Theo lời kể của dân địa phương Ngài rất thiêng, khi gặp nạn nếu cầu cứu đến Ngài thì sẽ được thoát nạn. Vì thế 29 làng Chăm đều làm lễ tế xin Ngài phù hộ độ trì. Lễ thường tổ chức sau lễ hội Rija Nưgar từ tháng 1, 2, 3 lịch Chăm.

Lễ vật gồm hoa quả, xôi chuối, dừa…Các chức sắc hành lễ là Maduen, Ka-In và các nghệ nhân sử dụng trống Gineng, Baranang, Saranai và Caing.

Cek Lapat về Lễ hội Po Klaong Kasait.

Cek Lapat thuộc địa phận làng Phước Lập cũ, nay thuộc xã Phước Dinh, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Đứng trên núi Lapat nhìn xuống phía đông ta thấy làng Từ Thiện, một làng của ngư dân vùng biển. Biểu tượng thờ Ngài là một phiến đá tự nhiên; khi làm lễ đá được tắm rửa và mặc lễ phục. Lễ hội tế Po Klaong Kasait căn cứ theo truyền thuyết. Ngài là người từ thượng giới được giáng trần từ đám mây trên núi Bà Đen ở xứ Pandarang, nay là Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận. Ngài ra đời cùng thời với Po Klaong Girai, đã giúp nhà vua xây dựng vương quốc Chăm 55 năm (1151 – 1205). Nỗi bật nhất là công trình thủy lợi, khẩn hoang làm ruộng giải quyết lương thực cho dân thoát khỏi nạn đói. Vốn là người cõi tiên nên khi qui tiên Ngài hóa thành thần cứu độ dân. Ngài đã được các triều nhà Nguyễn  phong tặng 4 sắc phong Phiên Vương Thần Hộ Quốc Tì Dân. Cộng đồng người Chăm tôn thờ Ngài như một vị thần hộ mệnh và tổ chức lễ tế Ngài theo định kỳ hàng năm. Đặc biệt làng Chăm Lương Tri có lễ rước sắc.

Lễ vật, chức sắc như lễ tế Po Nai.

Patau Lingal.

Patau Lingal có nghĩa là Đá Cầy; trên đỉnh có hình giống con chim nên dân địa phương gọi là Đá Chim. Tảng đá rất đồ sộ, cao khoảng 30m, chu vi khoảng 100m, thuộc địa phận xã Phước Nam, huyện Ninh Phước. Ngày xưa là nơi tế thần Chuột của các làng Chăm vùng sông Lũy: Vụ Bổn, Hiếu Thiện, Văn Lâm, Chung Mỹ, Mỹ Nghiệp, và Vĩnh Thuận.

Lễ tế thường tổ chức vào tháng lúa trổ (tháng 7-8 lịch Chăm). Lễ vật gồm chè xôi hoa quả. Chức sắc tế lễ là các thầy cúng dân gian Kadhar, Pajau. Chủ ruộng tiện hình con chuột 1 đực 1 cái, kéo vòng quanh các bờ ruộng của mình rồi mang đến Patau Lingal làm lễ tế.

Mbaok Chuai

Mbaok Chuai còn gọi Cek Saralang (Núi Xa Cừ) dân địa phương gọi là Mũi Dinh ngày nay thuộc xã Phước Dinh, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Người Chăm chỉ làm lễ tế Po Riyak dưới gốc cây da nên dân gian còn gọi là Yang Jrai (thần Cây Đa). Po Riyak tên tục là Ja Aih Wa, tên thần là Mat Tituk có nghĩa là vua của biển cả. Các làng Chăm xem Ngài như vị thần hộ mệnh, làm lễ tế theo định kỳ hàng năm sau lễ Rija Nưgar. Lễ vật tùy theo làng  gồm 1 con dê hay 1 con gà, cơm canh, hoa quả. Chức sắc hành lễ như lễ tế Po Klaong Kasait.

Ngoài các lễ cầu đảo gắn liền với di tích thiên nhiên, cộng đồng người Chăm Ninh Thuận còn tổ chức lễ cầu đảo Rija Nưgar và 5 lễ thuộc cộng đồng khu vực tháp mà người Chăm gọi là limư kathuat có nghĩa là ngũ hành: thủy (aia), hỏa (apuai), kim (Pasei), mộc (kayau) thổ (tanah); thiếu một trong 5 yếu tố đó mọi vật sẽ không tồn tại.

Rija Nưgar.

Rija Nưgar có nghĩa là lễ múa của xứ sở. Lễ do cộng đồng làng tổ chức đồng loạt theo định kỳ hàng năm. Thời gian 2 ngày, lễ vào chiều thứ năm, lễ ra  sáng thứ sáu (tamư di jip tabiak di suk), trước rằm tháng 1 lịch Chăm (khoảng tháng 4 dương lịch).

Rija Nưgar được xem là lễ múa hội đầu năm, nhằm tiễn đưa năm cũ đón mừng năm mới, cầu an cầu phúc cầu hòa, cầu sự sinh sôi nẩy nở cho người vật nuôi cây trồng, mùa màng bội thu.

Chức sắc hành lễ là Maduen, Ka-In và các nghệ nhân sử dụng nhạc cụ  trống Gineng, Baranang, Saranai và Caing.

Lễ vật gồm gà, dê và các sản phẩm nông nghiệp. Vì thế có câu tục ngữ Tamư manuk tabiak pabaiy nghĩa là Lễ vào gà lễ ra dê. Lễ ra có vật hiến sinh như lễ Palao Rija Sah.

Palao Rija Sah

Palao Rija Sah còn gọi Palao kasah hay Palao Pasah là lễ lớn nhất trong năm. Trong kinh có từ ngữ Padhi Yang Aia, nghĩa là tếThần Thủy còn gọi là Pơh Pabah Karum (mở cửa khẩu) hay khai thông từ biển lên nguồn. Lễ do các làng Chăm thuộc khu vực tháp tổ chức, kinh phí trích từ hoa lợi ruộng hương hỏa của các làng, mỗi khu vực tổ chức ở mỗi địa điểm khác nhau.

Khu vực tháp Po Klaong tổ chức tại cửa khẩu Nại, Tri Thủy. Khu vực tháp Po Inư Nagar tổ chức tại cửa khẩu Phú Thọ, Đông Giang. Khu vực tháp Po Ramê tổ chức tại cửa khẩu Cà Ná.

Lễ vật gồm dê, gà, hoa quả và các sản phẩm nông nghiệp. Các chức sắc tôn giáo hành lễ là Baséh, Acar, và các chức sắc tín ngưỡng Kadhar, Pajau, Maduen, Ka-In cùng các nghệ nhân sử dụng nhạc cụ trống Gineng, Baranang, Sarnai, Caing.

Cuộc lễ diễn ra trong 2 ngày 1 đêm. Lễ vào chiều chủ nhật, lễ ra sáng thứ hai (tamư di Adit tabiak di thom) và có 5 nhà lễ chính:

Nhà lễ Baséh ở phía đông bắc (dih esan)

Nhà lễ Acar ở phía tây nam (dih Nailiti)

Nhà lễ Kadhar ở phía đông nam (dih Agrih)

Nhà lễ Maduen, Ka-In ở phía tây bắc (dih Bayap)

Nhà lễ tế thần Hỏa ở điểm giữa (bathak Canar), tức điểm giao nhau của hai đường chéo nối 4 điểm (đông bắc, tây nam, đông nam và tây bắc). Mỗi lễ tế gồm 1 con dê, 3 con gà.

Và 2 nhà lễ phụ chỉ thay đổi vị trí cửa của 2 nhà lễ Kadhar, Pajau và Maduen, Ka-In. Lễ vào cửa phía đông, lễ ra cửa phía tây.

Ngoài lễ vật tế còn có cả lễ vật hiến sinh gồm 2 phần:

Sản phẩm nông nghiệp gồm lúa (padai), hạt ke (hakuai), đậu (ritak), bắp (tangơi). Lễ vào thì mỗi chức sắc mỗi lễ thức khác nhau.

Sinh vật thì được nặn bằng bột gạo mỗi loại 1 đực 1 cái gồm người (manuis), trâu (kabao), ngựa (asaih), heo (pabuei), dê (pabaiy), gà (manuk) rắn (ula) chó (asau).

Sáng thứ hai Paséh làm lễ tế thần Hỏa (cuh yang Apuei) tại điểm trung tâm, các lễ vật hiến sinh được kết bè chuối đưa xuống biển kết thúc cuộc lễ .

Yuen Yang.

Yuen yang còn gọi Padhi Yang Adi Tiak, có nghĩa là lễ tế Thần Mặt Trời, được tổ chức theo định kỳ hàng năm tại các tháp. Thời gian 2 ngày 1 đêm. Lễ vào chiều chủ nhật, lễ ra ngày thứ hai (tamư di Adit tabiak di thom) trước rằm tháng 4 lịch Chăm (khoảng trung tuần tháng 7 dương lịch).

Lễ vật gồm dê, gà cơm canh và các sản phẩm nông nghiệp. Chức sắc tế lễ gồm có: Po Adhia, Kadhar, Pajau, Maduen, Ka-In và các nghệ nhân sử dụng nhạc cụ trống Gineng, Baranang, Sarani, Caing.

Katê.

Katê còn gọi là Katê sak có nghĩa là lễ tế Trời (dương). Người Chăm hiểu thần ở đây là Yang Amư (Thần Cha). Lễ được tổ chức theo định kỳ hàng năm, vào ngày 1 trước rằm tháng 7 lịch Chăm (khoảng trung tuần tháng 10 dương lịch). Thời gian 1 buổi sáng tại các tháp.

Chức sắc thực hiện gồm có Po Adhia, Kadhar, Pajau và Camanei.

Lễ vật gồm 1 con dê, cơm canh và các sản phẩm nông nghiệp.

Cakap halau kraong.

Cakap halau có nghĩa lễ đọc kinh tế nguồn nước còn gọi là Padhi Yang Kayau có nghĩa là tế Thần Mộc vì người Chăm quan niệm nước từ rễ cây mà ra vì thế có câu Aia sa halau kayau sa lipaong, nghĩa là nước một nguồn rừng cây một dãy. Lễ được tổ chức theo định kỳ hàng năm. Thời gian 2 ngày 1 đêm; lễ vào thứ năm, lễ ra sáng thứ sáu (tamư di jip tabiak di suk), sau rằm tháng 7 lịch Chăm (khoảng trung tuần tháng 11 dương lịch).

Lễ vật gồm 2 con dê, 5 con gà, cơm canh và các sản phẩm nông nghiệp.

Chức sắc hành lễ gồm chức sắc Paséh và chức sắc Acar cùng ông cai đập (Ong Banơk).

Riêng chức sắc Acar lễ vào 3 ông: Imum, Katip, Madin, lễ ra sáng thứ sáu có gậy thần (agai Bhong) và lễ đọc kinh tế nguồn nước gồm 9 ông. Chức sắc làm lễ đọc kinh phải là Sư cả (Gru) mặc áo trắng, các người còn lại mặc áo dài đủ màu tượng trưng cho sắc màu của đám mây.

Cambul.

Cambul là lễ tế thần Yang Po (âm) tức thần thổ địa (Tanưh Riya). Lễ được tổ chức theo định kỳ hàng năm. Thời gian tổ chức là 1 buổi sáng ngày 1 sau rằm tháng 9 lịch Chăm (khoảng tháng 12 dương lịch) tại tháp. Katê và Cambul đối nhau (dương, âm) nên người Chăm có câu:

Katê di bingun Cambul di klam

Katê trước rằm, Cambul sau rằm

Chức sắc và lễ vật giống như ở lễ Katê.

Qua cuộc thăng trầm của lịch sử một số lễ hội như Palao Rija Sah, Cakap Halau Kraong và Lễ Tế Đập đã bị mai một nguyên nhân bởi trước năm 1975 các nơi làm lễ đều nằm trong điểm nóng của chiến tranh nên vì lý do an ninh không thực hiện các lễ được. Sau năm 1975, do tình trạng vượt biên, ruộng đất hương hỏa các tháp và cả ruộng hương hỏa của làng để chi vào các lễ trên bị tập trung vào HTX N2, nên không có kinh phí để chi vào các lễ nói trên. Mặc dù Nhà Nước đã có NQTW 5 về việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc và hàng trăm lễ hội của người kinh đã được phục hồi, nhưng các lễ nói trên chưa được phục hồi để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng người Chăm. Nếu phục hồi được các lễ nói trên thì theo chúng tôi không những thực hiện tốt tinh thần NQTW 5 mà còn đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần như người Chăm đã quan niệm, ngak Yang parang bingu nghĩa là lễ tế thần linh là trưng bày nét đặc trưng tinh hoa văn hóa, đồng thời góp phần tạo điều kiện thu hút việc du lịch tham quan văn hóa lễ hội tại tỉnh Ninh Thuận.

Bàlamôn giáo và Hồi giáo đã du nhập vào Champa từ rất lâu đời và đã được bản địa hóa trở thành gần như là những tín ngưỡng dân gian. Riêng Hồi giáo Islam là một trường hợp đặc biệt, và ngày nay số người Chăm Hồi giáo Islam này cũng chỉ là một thiểu số trong cộng đồng người Chăm mà thôi; cho nên ở đây chúng ta không đề cập nhiều đến họ. Đối với người Chăm, tôn giáo –  tín ngưỡng dân gian rất quan trọng; nó đã ăn sâu vào đời sống cộng đồng. Vì thế đội ngũ chức sắc tôn giáo và tín ngưỡng dân gian giữ một vai trò trọng yếu; chính họ chủ trì các lễ tế và lễ hội. Và người Chăm thì có rất nhiều lễ tế và lễ hội. Các lễ lạt này lại gắn chặt với các di tích lịch sử và truyền thuyết. Chính vì thế, khi nói đến người Chăm ở Ninh Thuận chúng ta bắt buộc phải nói đến đội ngũ chức sắc, lễ tế, lễ hội, di tích lịch sử và truyền thuyết.

Đa số người Chăm biết và chú tâm đến truyền thuyết nhiều hơn là lịch sử, vì thế các di tích thường được giải thích theo truyền thuyết. Đá Nẻ (Patau Tablah) là trường hợp điển hình. Các nhân vật cũng vậy. Đa số người Chăm không hề biết, cũng chẳng chịu nhìn nhận Po Klaong Girai là chính Jaya Indravarman IV (1151-1205). Và nhiều khi còn lẫn lộn vua này với vua khác như trường hợp Po Bin Nâthuer đã bị nhận lầm là Chế Bồng Nga. Ý nghĩa lịch sử của các di tích Chăm ở Ninh Thuận nói riêng và ở Việt Nam nói chung quả là một đề tài khó vì điều khó khăn lớn nhất dành cho các nhà nghiên cứu về Champa là thiếu những tài liệu gốc chính xác.

Tài liệu tham khảo và chú thích.

1- Phân viện Miền Trung tại thành phố Huế: Champa tổng  Mục Lục các công trình nghiên cứu năm 2002.

2-Tổng điều tra dân số ngày 01.4.1.999 của Nước CHXHCN Việt Nam.

3-Theo tư liệu ông Imum Thông Kỳ, thôn Cam, xã Lạc Tánh, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

4- Bản báo cáo Ban Dân Vận tỉnh Ninh Thuận

5- Tư liệu viết tay bằng chữ Chăm (akhar thrah) của cụ Thiên Sanh Cảnh nhà nghiên cứu văn hóa Chăm, thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

6- Theo tư liệu viết tay bằng chữ Chăm (akhar thrah) của cụ Nại thành Bô, thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thụân.

7- Biuh có nghĩa là thành lũy thời vua Po Ramê, vì con sông chảy qua khu vực này nên đặt tên là Kraong Biuh, hiện di tích vẫn còn ở địa phận thôn Vụ Bổn, xã Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

8- Núi mang tên nhân vật anh hùng của người Raglai trong sử thi Kei Kamao.

9- Tư liệu viết tay bằng chữ Chăm của cụ Thiên Thiện, thôn Văn Lâm, xã Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

10- Panrang: xứ Phan Rang. Kraong: Lạc Trị, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Parik: Phan Rí, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Pajai: thôn Ma Lâm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Pacam, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

11- Theo báo cáo của ông Báo văn Tin, Thôn trưởng làng Chung Mỹ.

12- Ariya Muk Tih Ong, bản viết tay bằng chữ Chăm của ông Thiên Thiện, thôn Văn Lâm, xã Phước Nam,

13- Nai mang Makah. Po Dharma, G. Moussay, Abdul Karim

14- Nơi tu hành nữ tu sĩ Chăm gọi là Cek Cambang. Po Nai có tên là Nai Tang Ya, vì tu hành đắc đạo nên trong bài thánh ca còn gọi là Nai Tang Ya Bia Ata Pah.

15- Daoh salok có nghĩa là đồng dao, tư liệu viết tay bằng chữ Chăm của ông Quảng đại Thi, thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

16- Tư liệu viết tay bằng chữ Chăm của ông Thiên Thiện, xã Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

17- Tư liệu viết tay bằng chữ Chăm của Cụ Nại Thành Bô, thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

18- Tư liệu điền dã về lễ hội tại các làng Chăm.

19- Tư liệu viết tay bằng chữ Chăm của ông Thiên Thiện.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s