CHỮ QUỐC NGỮ – TIẾNG VIỆT

 

CHỮ QUỐC NGỮ VÀ MÔI TRƯỜNG  BÌNH ĐỊNH

Chữ Quốc Ngữ (CQN) là đề tài được đề cập nhiều lần, được bàn luận dưới nhiều khía cạnh, thậm chí được đánh giá theo nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng ai cũng phải thừa nhận, vì thực tế là như thế, CQN rất tiện dụng, hữu ích, cần thiết và nhất là độc đáo. Gần đây nguồn gốc CQN lại được nêu ra. Trong đó vấn đề ông tổ của CQN được xét lại. Ai mới là cha đẻ thật sự của CQN? Gốc gác của CQN là Pháp, là Ý, hay là Bồ Đào Nha? Cái nôi của CQN là đâu? Nơi phôi thai của CQN là Cửa Hàn, Hội An, Thành Chiêm, Sở Kiện, Kẻ Sở, hay Nước Mặn? Vì sao hôm nay lại có cuộc hội thảo với đề tài BÌNH ĐỊNH VÀ CHỮ QUỐC NGỮ này? Để khỏi lạc đề chúng tôi nêu lên ở đây một khía cạnh của đề tài. Đó là CHỮ QUÔC NGỮ VÀ MÔI TRƯỜNG BÌNH ĐỊNH. Con người sống trong môi trường trái đất. CHỮ QUỐC NGỮ đã từng ở trong MÔI TRƯỜNG BÌNH ĐỊNH.

Chúng tôi nói đến CQN về phương diện Chữ Viết, một công cụ thể hiện Tiếng Việt, và chúng tôi giới hạn MÔI TRƯỜNG BÌNH ĐỊNH  trong khoảng thời gian từ năm 1615 đến năm 1945.

Để giải quyết vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập đến bốn lãnh vực:

– NGUỒN GỐC CQN, cụ thể là khía cạnh lịch sử.

– CON NGƯỜI, những con người có liên hệ đến CQN.

– NƯỚC MẶN, cư sở Truyền Giáo của Dòng Tên.

– NHÀ IN LÀNG SÔNG, còn có tên NHÀ IN QUI NHƠN.

Về vấn đề NGUỒN GỐC CQN, có người khẳng định:

Ông tổ của CQN, Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), là người Pháp, rõ ràng tên ông ta là tiếng Pháp, và đúng ngay giai đoạn Thực dân Pháp đang khống chế nước ta.

CHỮ NÔM bị “chìm nghỉm” do sự xuất hiện của CQN với sự trợ lực của Thực dân Pháp.

Vậy CQN là công cụ của Thực dân Pháp. Và người Công giáo lại bị chụp mũ, bị kết án vì có người Công giáo mới có CQN.

Nhưng Đắc Lộ là người xứ Avignon, một phần đất của Vatican. Đông Kinh Nghĩa Thục đã cổ động mạnh nhất, rầm rộ nhất, cụ thể nhất phong trào học CQN. Có điều ít người biết hoặc không chịu biết là CQN ban đầu chỉ là chuyện nội bộ của người Công giáo. Trước tiên, việc sáng tạo ra CQN là để các vị thừa sai dùng cho dễ; chỉ “lưu hành nội bộ”. Chữ Nôm khó học, khó viết, muốn học Chữ Nôm, trước phải học Chữ Hán, Chữ Nôm lại “khổ đọc”, phần lớn là phải “đọc đoán mò”. Sau rồi CQN mới được dùng cho việc in ấn sách vở kinh kệ của người Công giáo. Thực dân Pháp nắm lấy và khai thác công cụ CQN là việc của họ; không hề có một thỏa thuận nào với người Công giáo. Một điều nữa, ai cũng biết, trong khi sách vở kinh kệ Công giáo in bằng CQN  đang thịnh hành thì sách vở kinh kệ Công giáo in bằng Chữ Nôm vẫn tiếp tục được in ấn song hành. Không vì lý do gì lại bảo người Công giáo mà cụ thể là CQN đã đẩy Chữ Nôm vào “cõi chết”. Nếu cuốn “Dictionarium Annamiticum Lusitanum Latinum” của Alexandre de Rhodes chỉ có CQN, thì cuốn “Dictionarium Anamitico Latinum” của Pigneau de Béhaine và cuốn “Dictionarium Anamitico Latinum” của Jean Louis Taberd có Chữ Nôm in ấn rất đẹp và “bền vững”, nhất là cuốn của J.L.Taberd. Ngoài ra toàn bộ các sách của Girolamo Majorica viết bằng Chữ Nôm. Trước đây những nhà in ở Tây Đàng Ngoài như Kẻ Sở, Phúc Nhạc đều phân biệt rõ ràng những sách Chữ Nôm Annam, tức loại Chữ Nôm chúng ta đề cập ở đây, với những sách Chữ Nôm La tinh, tức Chữ Quốc Ngữ. Có thể nói người Công giáo đã “bảo tồn” Chữ Nôm rất kỹ. Còn việc Chữ Nôm bị mai một là do tính “khổ học”, “khổ đọc” của nó, trong khi CQN thì ngược lại.

Một khía cạnh khác. Việc La tinh hóa các hệ thống chữ viêt không dùng mẫu tự La tinh đã trở thành thông dụng và được xem như “truyền thống” của các thừa sai Dòng Tên. Các vị thừa sai này khi đến truyền giáo ở một nơi xa lạ nào thì đầu tiên hết là học ngôn ngữ của địa phương đó và La tinh hóa các hệ thống chữ viết ở đó để tiện dùng trong việc truyền giáo, đồng thời tiến hành soạn từ điển và ngữ pháp ngôn ngữ của địa phương sở tại. Các từ điển và ngữ pháp thường căn cứ theo mẫu các sách từ điển và ngữ pháp của tiếng La tinh. Thời kỳ cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII lúc bấy giờ Dòng Tên Tỉnh Dòng Nhật Bản bị chi phối bởi Bồ Đào Nha nên việc La tinh hóa và soạn từ điển và ngữ pháp đương nhiên chịu ảnh hưởng sâu đậm ngôn ngữ, chữ viết Bồ Đào Nha. Dĩ nhiên cũng có ảnh hưởng phần nào của các ngôn ngữ khác như Ý, Pháp, vì các vị thừa sai không phải tất cả đều là người Bồ Đào Nha; cũng có những vị là người Ý, người Pháp, nhưng có điều chắc chắn là các vị không phải người Bồ Đào Nha đó đều rành tiếng Bồ Đào Nha. Trường hợp Việt Nam, việc La tinh hóa chữ viết, có thể nói được là đi sau, học tập hai “đàn anh” Tamil và Nhật Bản. Từ năm 1578, 1579, 1586 Thừa sai Dòng Tên Henrique Henriques (1520-1600) người Bồ Đào Nha đã La tinh hóa hệ thống chữ viết Tamil và đã xuất bản những sách như: THAMBIRAN VANAKKHAM (DOCTRINA CHRISTAM EN LINGUAR TAMUL), KIRISITHIYAANI VANAKKHAM, FLOS SANCTORUM. Đặc biệt ông đã xuất bản cuốn Ngữ pháp tiếng Tamil ARTE MALAUAR và cho lưu hành nội bộ một cuốn Từ vựng Tamil Bồ Đào Nha. Nhưng có thể nói người có ảnh hưởng trực tiếp và trở thành mẫu mực cho các thừa sai Dòng Tên ở Việt Nam trong việc La tinh hóa chữ viết và làm những cuốn Ngữ pháp và Từ điển chính là Thừa sai Dòng Tên người Bồ Đào Nha João Rodrigues (1558-1634). Cụ thể ông đã La tinh hóa hệ thống chữ viết Nhật Bản và xuất bản cuốn Từ vựng Nhật-Bồ Đào Nha VOCABULARIO DA LINGOA JAPAM (năm 1603) với khoảng 30000 mục từ và cuốn Ngữ pháp tiếng Nhật ARTE DA LINGOA DE JAPAM DIUIDIDA EM TRES LIVROS (năm 1604). Như vậy chữ viết Tamil cùng với chữ viết Nhật Bản đã được La tinh hóa hoàn chỉnh từ rất sớm nhưng cũng sớm đi vào quên lãng. Một dẫn nhập dài dòng nhưng cần thiết để thấy sự độc đáo và hi hữu của CQN.

Thật vậy, CQN ở Việt Nam cũng do các vị Thừa sai thuộc Dòng Tên Tỉnh Dòng Nhật Bản (lúc ấy tập trung ở Macao) nghĩ ra, theo cùng một mô thức, nhắm cùng một mục đích, đã trường tồn tốt đẹp mãi đến ngày nay do những yếu tố khách quan nhưng chủ yếu do những yếu tố chủ quan. Chủ quan ở đây chúng tôi muốn hiểu theo chiều hướng chủ động tích cực. Phải khẳng định CQN là một công trình tập thể. Nói Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) là cha đẻ, là ông tổ của CQN, đó chỉ là một cách nói thông dụng, phổ thông, tiện dụng. Đắc Lộ là người “tập đại thành” CQN. Tuy nhiên cách thức này cũng khẳng định vai trò của Đắc Lộ. Gần đây có ý kiến cho rằng Đắc Lộ chỉ có công “chép” lại những cuốn tự vị, từ điển của hai vị thừa sai Dòng Tên khác là Gaspar d’Amaral (1592-1645/1646), với cuốn “Diccionario da Lingua Annamitica” và cuốn “Diccionario amanita-portugues-latim” và Antonio Barbosa (1594-1647), với cuốn “Diccionario portugues-anamita”. Thực tế thì những cuốn trên đã bị thất lạc mất rồi. Ngày nay chúng ta chỉ nghe nói thế hoặc biết qua một tài liệu nào đó. Thật ra công việc soạn từ điển bao giờ cũng là một công việc tập thể, thường người đi sau dựa theo công trình của người đi trước hoặc người khác, hoặc là công việc của nhiều người cộng tác, người đứng tên tác giả chẳng qua là người chủ biên mà thôi. Ngoài ra nếu đem so sánh những cuốn trên, nếu có thể so sánh được, với cuốn “Dictionarium Annamiticum Lusitanum Latinum” (năm 1651) của Đắc Lộ thì sẽ thấy cuốn từ điển của Đắc Lộ đồ sộ hơn nhiều, hoàn chỉnh hơn. Đó là chưa nói đến công sức của một người khi làm cuốn từ điển không ở Việt Nam, không có sự góp công góp sức của các cộng tác viên người Việt. Phải công nhận công sức và tài năng của Đắc Lộ. Không gì bằng thực tế trước mắt! Trước đó chưa ai làm được một cuốn từ điển CQN như vây. Và mãi 187 năm sau mới có một cuốn từ điển khác vượt qua được. Đó là cuốn “Dictionarium Anamitico-Latinum” (năm 1838) của J.L.Taberd. Trong bài “Bồ Đào Nha và công trình sáng chế Chữ Quốc Ngữ. Phải chăng cần viết lại lịch sử?” nhà nghiên cứu Roland Jacques (RJ) cho rằng người ta đã “thổi phồng khả năng ngữ học vô song nhiều thứ tiếng khác nhau của” Đắc Lộ. Và trong bài “Liên quan đến các cuốn Tự Điển và Giáo Lý của Alexandre de Rhodes” trong khi trao đổi với Giáo sư Phan Đình Cho, RJ viết: “Tôi cũng xác tín rằng, đối với Cha Rhodes, chủ yếu là một con người hoạt động, thì ngôn ngữ học chỉ là một lãnh vực quan tâm thứ yếu. Khi ngài rong ruổi Đàng Trong giữa những năm 1640 và 1645, ngài dấn thân trọn vẹn cho việc rao giảng Phúc Âm và đào tạo thầy giảng. Tôi xác tín rằng vấn đề ngôn ngữ, vào lúc ấy, đối với ngài là hoàn toàn thứ yếu. Trong khi đó, nhiều nhà thừa sai khác lại chăm chú vào công việc này.” Chúng tôi không nghĩ như vậy khi nghiên cứu  cuốn Tự Điển và cuốn Giáo lý của Cha Đắc Lộ và đọc bài “Khái luận Việt ngữ” và  chương 30 của cuốn “Lịch sử Đàng Ngoài” Đắc Lộ viết “Về Cung Giọng và Dấu trong tiếng nói thông dụng nước Annam”. Chúng tôi nhận thấy Đắc Lộ thật vĩ đại. Có một vấn đề các nhà nghiên cứu cần tiếp tục làm rõ là các từ, ngữ trong cuốn Từ Điển của Đắc Lộ đã chịu ảnh hưởng của giọng Quảng Nam hay giọng Bình Định.

Đắc Lộ là một người có “liên hệ” rất lớn đến CQN, nhưng Đắc Lộ không được xem là “NGƯỜI BÌNH ĐỊNH” (NBĐ). Đắc Lộ chỉ là học trò của một NBĐ, một NBĐ rất đặc biệt. Đó chính là vị thừa sai Dòng Tên gốc gác Bồ Đào Nha Francisco de Pina (1585-1625). Vị này đến Hội An năm 1617. Khoảng giữa năm 1618 ông đi Nước Mặn, rồi khoảng đầu năm 1620 về Hội An, có thể đầu năm 1621 lại đi Nước Mặn, rồi bỏ Nước Mặn về Hội An cuối năm 1621, sang năm 1623 đi lập cư sở Thành Chiêm (Cacciam). Từ năm 1617 đến giữa năm 1618 Pina phải sống lén lút ở Hội An với người Nhật, ông không có thì giờ, không có điều kiện, không có tâm trí nào để học tiếng Việt. Một năm rưỡi sau đó ở Nước Mặn mới là thời gian và môi trường để ông học tiếng Việt. Ông đã học tiếng Việt với ai chúng ta không biết được. Lúc bấy giờ không có nhu cầu học tiếng Việt, người ta chỉ học chữ Hán mà thôi cho nên không có sách vở dạy tiếng Việt. Vì thế ông chỉ còn mỗi một cách tự học bằng cách “học lóm” hoặc lân la tiếp xúc với người chung quanh. Có một người có thể day ông là Augustinô, cậu thanh niên đã trở lại đạo và được rửa tội ở Hội An mà Francesco Buzomi đã đưa về Nước Mặn cùng với ông. Nhưng Augustinô lại bận giúp việc cho Cha Buzomi, ngoài việc làm thông ngôn cho Cha Buzomi, anh ta còn phải học, học các “lẽ đạo”, học tiếng Ý, tiếng Bồ với Cha Buzomi, và học với gia sư người Việt. Trong một bức thư, một bản nháp đã đươc chép lại thì đúng hơn, Pina viết rằng Augustinô, anh thông ngôn của Cha Buzomi đã học về ngôn ngữ và các giáo phái; nhằm mục đích này Cha Buzomi đã mướn một gia sư dạy anh ta, và bây giờ anh ta là ngôi sao tại Pulo Cambi. Phải thừa nhận Pina là tài năng hiếm có, vì đến năm 1620 Pina đã nổi tiếng là vị thừa sai duy nhất có thể giảng mà không cần đến thông ngôn (jurubaca). Năm 1620 Pina về Hội An, nhưng đầu năm 1621 lại về Nước Mặn để rồi cuối năm mới rời Nước Mặn. Chúng tôi nghĩ rằng Nước Mặn vẫn luôn là “hậu phương lớn” của Pina. Vì ở đó có thầy của ông, cha Buzomi, thầy về thần học trong khoảng thời gian ông học ở Macao, thầy về truyền giáo lúc bấy giờ. Trước đây các nhà nghiên cứu, các sử gia Giáo Hội Công giáo đã từng lưu ý khả năng tiếng Việt của ông. Gần đây nhà nghiên cứu Roland Jacques nhấn mạnh nhiều hơn nữa khả năng nói tiếng Việt của ông và vai trò của ông trong việc xây dựng và hình thành CQN. Roland Jacques còn cho rằng trong thời gian 1611-1617 Pina theo học ở Đại học Sao Paolo, Macao đã có tiếp xúc với thừa sai João Rodrigues, nhà ngữ học tiếng Nhật tiên phong đã soạn cuốn ngữ pháp tiếng Nhật và chuyển tự chữ viết Nhật Bản sang chữ cái La tinh dựa vào cách phát âm tiếng Bồ, nay gọi là Romaji. Cuốn ngữ pháp này, như đã nêu ở trên, in vào khoảng năm 1604-8. Roland Jacques cho rằng Francisco de Pina đã theo phép chuyển tự này để ghi chép tiếng Việt khi ông đến Đàng Trong. Thật ra các vị thừa sai Dòng Tên có liên hệ ít nhiều đến CQN đều biết và áp dụng phương thức này của João Rodrigues không riêng gì Francisco de Pina. Và João Rodrigues cũng như Henrique Henriques đã áp dụng phương thức La tinh hóa và soạn ngữ pháp của các vị tiền bối Bồ Đào Nha như João de Barros (1496-1570), Fernão de Oliveira (1507-1581) và Manuel Alvares (1526-1582). Điều này nói đến truyền thống Bồ Đào Nha. CQN chịu ảnh hưởng của Bồ Đào Nha. Dĩ nhiên cũng có ảnh hưởng phần nào của Ý nữa.

Gọi Francisco de Pína là NBĐ trông có vẻ không ổn lắm, gọi ông là Người Thành Chiêm (NTC) thì hợp lý hơn, vì ông “thành danh” ở Thành Chiêm. Nhưng “Chim tìm tổ, người tìm tông”. Pina “xuất thân” từ Nước Mặn, từ Bình Định. Vốn liếng Tiếng Việt và kinh nghiệm truyền giáo của Pina được vun trồng trong môi trường Bình Định. Nhưng nói Christoforo Borri (1583-1632) là NBĐ, thì hoàn toàn hợp lý. Vị thừa sai Dòng Tên này chỉ ở Nước Mặn bốn năm (1618-1622), nhưng con người của ông thắm đượm chất liệu Bình Định. Tình quê hương Bình Định được thể hiện rõ qua tác phẩm trứ danh của ông, Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina (Tường trình về cuộc truyền giáo mới của các cha Dòng Tên tại Vương quốc Đàng Trong) (xuất bản tại Rô-ma, năm 1631). Tác phẩm này đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ trong đó có tiếng Pháp, tiếng Hà Lan, tiếng La tinh, tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Việt. Tác phẩm này cho thấy tác giả không những hiểu biết tường tận mà còn yêu thương mến phục đất nước, con người Xứ Đàng Trong. Và con người Xứ Đàng Trong này chính là con người Bình Định. Qua bản tường trình này chúng ta còn biết được khả năng của Borri. Ông có thể giảng giài giáo lý cho bà Ursula, phu nhân của ngài sứ thần; điều này cho thấy trình độ tiếng Việt của ông. Trong bản tường trình  này Borri còn viết nhiều từ tiếng Việt bằng CQN. Có thể nói số lượng từ viết bằng CQN ở đây nhiều hơn bất cứ nơi nào khác trong giai đoạn phôi thai này. Trong bài viết “Hội An nôi Chữ Quốc Ngữ” nhà nghiên cứu Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên có trích mấy câu tiếng Việt Borri viết bằng Chữ Quốc Ngữ trong cuốn “Tường trình về Đàng Trong” của Borri và cho rằng đó là “mấy câu nói của người Hội An”. Nhưng ở chú thích ông ta lại viết: “Những câu Chữ Quốc Ngữ này cũng có thể được nói ở Qui Nhơn, Nước Mặn, vào thời này vẫn còn thuộc Quảng Nam.” Rõ ràng “hào quang” của Hội An quá lớn, vì thực tế Borri sống bốn năm ở Nước Mặn, không sống ở Hội An. Về tiếng Việt, Borri có những nhận định rất sâu sắc và tinh tế. Theo ông, tiếng Việt có nhiều nguyên âm, nên êm dịu hơn; nhờ có nhiều dấu thanh, tiếng Việt trở nên du dương. Do đó ai có khiếu âm nhạc, phân biệt được âm giọng khác nhau, thì học ngôn ngữ này dễ dàng hơn. Ông cho biết, sau sáu tháng học, ông có thể nghe và giải tội được, nhưng muốn hiểu biết đầy đủ, thì phải học thêm bốn năm nữa. Christoforo Borri là bằng chứng cụ thể nhất thành quả của môi trường Bình Định. Đây không phải là suy diễn mà là một thực tế.

Có một người mà từ trước đến giờ ít ai nghĩ ông ta cũng là NBĐ. Đó là vị thừa sai Dòng Tên Gaspar Luís (1586-1648). Ông là tác giả của hai tập tài liệu viết tay năm 1621 và năm 1626. Tập tài liệu năm 1621 viết tại Macao ngày 12-12-1621, lúc này ông chưa đặt chân đến Đàng Trong, và bằng tiếng La tinh. Trong tập tài liệu này ông chỉ đưa ra vài ba CQN và nội dung là một bản tường trình về giáo đoàn Đàng Trong. Trái lại khi Gaspar Luis viết tập tài liệu năm 1626 là lúc ông đã ở Đàng Trong được hơn một năm, bởi vì ông viết tại Nước Mặn ngày 1-1-1626. Trong tập tài liệu này ông đưa ra được mười ba từ và một câu tiếng Việt viết bằng CQN. Tài liệu này là một bản tường trình hàng năm viết bằng tiếng La tinh, dài 29 trang. Ở phần ba ông có kể lại việc truyền giáo ở cư sở Nước Mặn là nơi ông đang ở. Chúng ta biết rằng thâng 12 năm 1624 Gaspar Luís từ Macao đi Đàng Trong cùng một chuyến tàu với Đắc Lộ và năm Linh mục khác trong đó có Antonio de Fontes. Khi đến xứ này G. Luís liền xuống Nước Mặn để học tiếng Việt, còn Đắc Lộ và A. Fontes thì ở lại Kẻ Chàm để học tiếng Việt với Francisco de Pina.  Ông bị trục xuất năm 1629. Ông lại đến Đàng Trong lần hai năm 1632 để rồi ông lại bị trục xuất năm 1639. Khi ở Đàng Trong, Luís đã soạn một cuốn Từ Vựng tiếng Việt rất đầy đủ, nhưng đã bị mất khi chiếc tàu đưa cuốn sách này từ Đàng Trong về Macao bị đắm. Gaspar Luís xứng danh là NBĐ vì ông đã từng học tiếng Việt và ở Nước Mặn nhiều năm, ngoài ra ông cũng là một người đã có công trong việc sáng tạo CQN.

Nếu Christoforo Borri và Gaspar Luís là những gương mặt nổi thì một NBĐ khác là mặt chìm của môi trường Bình Định. Đó chính là vị thừa sai Dòng Tên Francesco Buzomi (1576-1639). Cha Đắc Lộ nhận định cha Buzomi là vị tông đồ đích thực của Đàng Trong, người đã tận tụy lo việc truyền giáo, hoạt động trong hơn hai mươi năm với một sức kiên trì đáng được khen ngợi ca tụng. Thông thường ai ai cũng đồng ý về  nhận định này. Ai cũng phải công nhận Cha Buzomi là một vị chân tu, một nhà truyền giáo đích thực. Chính vì mặt tốt, mặt nổi này mà người ta quên đi “mặt chìm ngôn ngữ học” của Cha Buzomi. Theo nhà nghiên cứu rất uy tín và đầy thẩm quyền về CQN là Đỗ Quang Chính thì các vị góp công sáng tạo CQN trong thời kỳ đầu là: Francisco de Pina, Christoforo Borri, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, Alexandre de Rhodes, Filippo Marini, Bento Thiện, Igesicô Văn Tín. Rõ ràng Francesco Buzomi không có tên trong danh sách này. Lý lẽ thông thường người ta thường đưa ra là Cha Buzomi không nói được tiếng Việt, khi giao dịch hoặc giảng Cha phải nhờ đến “thông ngôn”. Khi sử gia Dòng Tên Daniello Bartoli viết trong tác phẩm sử học DELLE OPERE DEL PADRE DANIELLO BARTOLI DELLA COMPAGNLA DI GESU (VOLUME XVII – DELLA CINA – LIBRO TERZO – 1825) rằng cha Buzomi có sáng tác một hệ thống ngữ pháp và ngữ vựng, thì nhà nghiên cứu mới nổi gần đây Roland Jacques (RJ) có vẻ nghi ngờ nên đưa ra nghi vấn “có thể có sự lẫn lộn với Pina chăng”. RJ, trong cuốn sách của ông có tựa đề LES MISSIONNAIRES PORTUGAIS ET LES DÉBUTS DE L’ÉGLISE CATHOLIQUE AU VIỆT NAM (2004) viết: “Nói chung các xác quyết của Bartoli liên quan đến các kiến thức ngữ học tuyệt vời của người đồng hương của ông là Buzomi lại không ăn khớp với những tài liệu tồn trữ mà chúng ta có thể truy cứu”. Ý nhà nghiên cứu này bảo rằng Bartoli đã thiên vị vì Buzomi cũng là người Ý như Bartoli. Nếu ai có điều kiện đọc toàn bộ tác phẩm của Bartoli được nêu ở trên (LIBRO TERZO) và phần đầu, tập LIBRO QUARTO, của tác phẩm này thì sẽ thấy Bartoli khách quan như thế nào khi viết về Buzomi, và Bartoli đã có những nhận xét rất đúng mức về Pina. Ngoài ra hai tập sách này cho chúng ta nhiều tài liệu về khả năng, hành trạng và những kỳ công của Cha Buzomi. Sở dĩ Bartoli biết và viết được  rất nhiều chi tiết về con người và những công việc của Cha Buzomi trong  hơn hai mươi năm trời ở Nước Mặn (1618-1639) như vậy chắc chắn là do Cha Buzomi cung cấp thông tin. Cần lưu ý chính Cha Đắc Lộ đã từng xác nhận Cha Buzomi là người khiêm tốn và hiền từ. Cũng trong cuốn sách “LES MISSIONNAIRES PORTUGAIS…” nói trên RJ đã viết (theo bản dịch của Định Hướng Tùng Thư – 2004): “Những bản dịch các bản văn Kitô giáo đầu tiên ra tiếng Việt có từ năm 1618, và phần thiết yếu do công của Francisco de Pina, linh mục Dòng Tên sinh ở Bồ Đào Nha, ông đã tốt nghiệp ở trường Macao, bấy giờ nhà văn phạm nổi tiếng về tiếng Nhật João Rodrigues “Tofuzzu” cũng hiện diện tại đấy từ năm 1610. Trong công việc của mình, linh mục Pina nhờ đến sự giúp đỡ rất hữu hiệu của một văn nhân Việt Nam trẻ tuổi có tên rửa tội là Phêrô: kiến thức uyên bác của người trẻ tuổi này hẳn rất là hữu ích trong công việc của Pina”. Tất cả chỉ là Pina! Một mình “Pina múa gậy trong vườn hoang”! Cần lưu ý là năm 1618 Pina mới “chân ướt chân ráo” đến Nước Mặn. Pina mới bắt đầu học tiếng Việt. Pina khi ở Macao nếu có biết João Rodrigues thì lúc ấy cũng chỉ dưới gốc độ “học trò” biết thầy. Còn Cha Buzomi lúc ấy là giáo sư thần học ở đó. Dĩ nhiên Cha Buzomi biết rõ João Rodrigues và công việc của vị này. Sau đoạn văn trên RJ có trích dịch một đoạn bản báo cáo ký tên Francisco Eugenio, tu sĩ Dòng Tên người Ý ở Macao ghi lại những chỉ dẫn lấy từ một tài liệu khác là “Annua del Collegio di Macao del 1618”. Tài liệu này cho biết: “…Anh có tên thánh rửa tội là Phêrô đó…giúp linh mục rất nhiều trong việc dịch kinh…Linh mục cũng viết ra các điều phải tin bằng tiếng địa phương ấy; trong bản đó người ta tuyên xưng rõ rệt chỉ có một Đức Chúa Trời, các mầu nhiệm về Ba Ngôi, về Chúa Nhập Thể làm người, về chuộc tội, cũng như sự cần thiết của đức tin và các bí tích…”  Dịch bằng tiếng địa phương có nghĩa là viết bằng Chữ Nôm chứ vào lúc đó làm gì có thể viết bằng CQN được. Và người chủ trương làm công trình dịch thuật phải là vị bề trên ở cơ sở đó. Đó chính là Cha Buzomi, không thể nào là Pina được. Tiếp đến RJ viết: “Theo thói quen thực hiện các biên bản hằng năm các tu sĩ Dòng Tên, ‘linh mục’, tác giả các công trình liên hệ không minh nhiên được nêu tên”. Nhưng RJ lại xác định “vị ‘linh mục’ ở đây chính là Pina”. Tại sao lại là Pina mà không phải Buzomi? RJ viết tiếp: “Ba tu sĩ Dòng Tên bấy giờ có mặt tại cơ sở truyền giáo Pulo Cambi là linh mục Buzomi, bị ‘bệnh nặng’, nên không đi giảng cho người ta trở lại được”. Không có bằng chứng Cha Buzomi bị bệnh lúc đó. Sự thật cha chỉ bị bệnh trước khi Trần Đức Hòa đưa về Nước Mặn chữa trị mà thôi. Hơn nữa bị bệnh không đi giảng được, nhưng không phải không dịch được, không họp hành được; đàng khác việc dịch không phải chuyện ngày một ngày hai. Viết tiếp: “Linh mục Pina, và linh mục Borri, một ngườì vừa đến và mới bắt đầu học tiếng. Chúng ta hiểu rằng các công trình  được thực hiện dưới sự giám sát của Buzomi, cựu bề trên cơ sở Đàng Trong (1615-1618) và hiện là bề trên cơ sở địa phương, nhưng những tác nhân chính yếu thực hiện công trình  nầy là linh mục Pina và chàng thanh niên Việt Nam cộng tác với ông ấy”. Đây quả thực là “giấu đầu lòi đuôi”. Giám sát ở đây đồng nghĩa với chủ biên đấy. Viết tiếp: “Theo chính lời xác nhân của chính linh mục Pina, ngay từ  năm 1622, ông đã hoàn thành việc xây dựng một hệ thống chuyển mẫu tự  La tinh cho thích hợp với lối phát âm và thanh điệu tiếng Việt Nam. Ông đã làm được một tuyển tập và bắt đầu viết một bản văn phạm. Kết quả đó, linh mục Pina đã đạt được một cách vất vả, với sự trợ giúp của một số ít học sinh Việt  Nam quy tụ chung quanh ông”.  Vì sao lại ghép năm 1622, lúc Pina ở Thành Chiêm, với chuyện năm 1618, lúc Pina ở Nước Mặn? Ở trên , trong sách của Bartoli có viết chuyện cha Buzomi có sáng tác một hệ thống ngữ pháp và ngữ vựng, đó là năm 1618. Có thể đúc kết như thế này: Cha Francesco Buzomi là vị chủ biên mọi công trình ở Nước Mặn lúc bấy giờ. Trong các công trình đó không loại trừ những công việc có liên quan đến ngôn ngữ và chữ viết. Cần lưu ý Cha Francesco Buzomi rất rành tiếng Nhật và đương nhiên Cha “biết” Chữ Hán. Có thể Cha không nói tiếng Việt sõi như Francisco de Pina, nhưng việc này không có nghĩa là Cha không thông hiểu tiếng Việt và đã không có đóng góp trong việc sáng tạo CQN. Không phải nhà ngôn ngữ học nào cũng đều có thể nói xuôi chảy ngôn ngữ mà ông ta nghiên cứu và viết sách ngữ pháp. Còn việc Cha Buzomi thường xuyên dùng đến người “thông ngôn” chứng tỏ Cha là một người rất cẩn trọng và cầu toàn, Cha cần sự chính xác; hơn nữa cha có bên mình người “thông ngôn” rất tài ba là Augustinô như đã nói ở trên. Qua cuộc tranh luận giữa Cha Buzomi và Thầy Tư Hiền chúng ta thấy được vai trò của người thanh niên Augustinô này. Chính Pina đã từng gọi người thanh niên này là một “ngôi sao ở Pulo Cambi”. Người thanh niên này đã trở lại Công giáo và là một “thầy giảng” đầu tiên trong Hội Thầy Giảng do Cha Buzomi thành lập về sau Cha Đắc Lộ phát triển. Sử gia D.Bartoli còn ghi lại phương pháp Cha Buzomi đã sử dụng để làm việc với người thông ngôn của mình như sau: “In tanto mentre ancor non potea valersi della sua lingua al ministero della diuina predicatione, adoperaua l’interprete, già con isquisita của, e con ugual patienza ammaestrato di quanto era da ragionarsi in publico, prouandosi prima in segreto il Padre a dire in sua lingua, e il Cocincinese a ripeterlo nella sua, con parole sì proprie, che la copia, per dir così, fedelmente rispondesse all’originale.”  Tạm dịch: “Khi Cha không thể tin cậy vào ngôn ngữ của mình để thực hiện sứ mạng rao giảng đạo Chúa, Cha sử dụng người thông ngôn, mà trước đó Cha đã đào tạo kỹ lưỡng và nhẫn nại về những gì cần giải thích cho dân chúng; trước tiên Cha cố gắng nói bằng ngôn ngữ của mình, và anh người Nam kỳ lặp lại bằng ngôn ngữ của anh, với những từ ngữ đủ chính xác để cho bản sao, nếu có thể gọi như thế, phải trung thành với bản chính.” Đoạn văn trích dịch này phản ảnh đầy đủ đẳng cấp, bản lĩnh, trình độ và sự cẩn trọng của Cha Buzomi. Có điều cũng cần lưu ý là việc các thừa sai thường phải học ngôn ngữ của nơi đến truyền giáo là để giải tội, việc xưng tội và giải tội là “chuyện hoàn toàn riêng tư”, lúc đó không thể có người thứ ba, không thể dùng “thông ngôn”, phiên dịch được.  Các Cha khi giải tội thường thì phải nghe cho ra, hiểu cho được người xưng tôi xưng những tội gì. Ngoài ra nếu có dịp đọc tác phẩm LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ 1620-1659 (LSCQN) (xuất bản năm 1972) của Đỗ Quang Chính chúng ta thấy các CQN mà tác giả đưa ra để dẫn chứng trong 7 tài liệu viết tay trong giai đoạn đầu 1620-1626 thì CQN trong Tài liệu viết tay năm 1626 của Francesco Buzomi là hoàn chỉnh nhất, tuy số liệu có ít. Nhà nghiên cứu Đỗ Quang Chính có nhận xét như thế này: “Nhìn vào chữ quốc ngữ của Buzomi trên đây, mặc dầu ít, nhưng đã thấy tiến triển, nếu đem so sánh với lối viết của João Roiz, C.Borri, Đắc Lộ, Gaspar Luis, và Antonio de Fontes từ năm 1626 trở về trước.”  Còn trong tác phẩm DÒNG TÊN TRONG XÃ HỘI ĐẠI VIỆT 1615-1773 (DTTXHĐV) (xuất bản năm 2008) nhà nghiên cứu này viết: “…chúng ta thấy Buzomi đã ghi mấy chữ xán tí, thien chu, thien chũ xán tí, ngaoc huan. Đây là một phần chứng cớ cho thấy ‘chữ Quốc ngữ’ của cha Buzomi và biết đâu vào lúc đó Buzomi đã viết được chữ Quốc ngữ thành từng câu, từng bài và nói được tiếng Việt? Đấy là chúng tôi phỏng đoán trình độ tiếng Việt của Buzomi vào năm 1626 sau 11 năm trời ở Đàng Trong.” Ở đây Đỗ Quang Chính vẫn còn có thành kiến với Cha Buzomi. Chẳng lẽ Cha Buzomi lại “dốt” đến thế sao? Còn nếu muốn biết Cha Buzomi  đã hiểu sâu sắc từ nghĩa tiếng Việt như thế nào cũng như tài năng điển chế từ ngữ tiếng Việt thì xin đọc ba trang trong tài liệu viết tay này của Cha Buzomi ắt rõ. Về vấn đề này trong tác phẩm LSCQN tác giả Đỗ Quang Chính có tường thuật như thế này: “Ba trang sau Buzomi ‘tranh luận’ về các danh từ Thiên Chủ, Thượng Đế; ông trưng dẫn ý tưởng của Thánh Phao Lô và Tô Ma, để nhấn mạnh đến việc phải thích nghi tôn giáo vào địa phương ngay cả trong ngôn ngữ…Ý của Buzomi là ở Đàng Trong nên dùng từ ngữ Thiên Chủ (Thiên Chúa) chứ không nên dùng Thượng Đế.” Trong DTTXHĐV Đỗ Quang Chính nói rõ thêm: “Cũng trong thư này, Buzomi tỏ ra không tán thành các từ Thiên, Thượng Đế, Thiên Chủ Thượng Đế, Ngọc Hoàng; vì, hoặc là không chỉ rõ Đấng Tối Cao theo giáo lý Công giáo (như Thiên, Thượng Đế), hoặc chỉ một thứ tín ngưỡng đã xuất hiện từ lâu ở VN (Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng Thượng Đế), nên Buzomi ngả theo cách dùng từ ngữ Thiên Chúa, vừa vắn, vừa hợp với văn hóa xã hội VN, vì hai từ ThiênChúa đã quá quen thuộc trong xã hội này.” Bao nhiêu đó đủ thấy tầm cỡ, đẳng cấp của con NBĐ này. Hãy nghe con NBĐ này nhận xét về người Việt, tiêu biểu, điển hình là con người Nước Mặn, con NBĐ; “Họ không quá nghiêng về quân bị, tính tình cũng không độc ác như người Nhật. Cả về tầm thước, họ không cao lớn như người Tàu, cũng không quá thấp như người Nhật. Tuy dễ nghe dễ tin và nhiều mê tín, nhưng người dân Việt dễ nhận ra lẽ phải. Họ không kiêu căng hay tự tôn như người Tàu.”

Chính vì thế trong khi trình bày đạo lý, các Cha có thể đưa về với lẽ phải, với chính đạo. Với lòng sùng đạo sẵn có, một khi trở lại, những người Công giáo Việt Nam lại là những người nhiệt thành đạo đức hơn ai hết.

Cha Buzomi còn có những nhận xét rất đúng về nền văn hóa Việt Nam. Theo cha, “Việt Nam là một nước văn minh, một trình độ văn hóa cao, trọng cổ truyền, trọng chữ viết và sách chữ. Về văn tự thì phân ra một đàng là lối nói bình dân, một đàng là lối nói của văn gia như La ngữ của chúng ta… Họ viết bằng bút lông và chữ viết đó trong những giấy tờ thường dịch, còn muốn hiểu và đọc được sách chữ, thì phải học một số rất nhiều thứ chữ mà ở đây chúng tôi gọi là chữ Hán, chữ dân chúng thường dùng cũng giống thể chữ Hán, nhưng lối đọc lại khác. Còn tiếng nói thì cung giọng êm dịu và giàu hơn tiếng nói của người Trung Hoa, nghe như tiếng người ta bình một bản thơ phổ nhạc.”  

Nói tóm lại  sở dĩ có được môt con NBĐ như thế vì con người này đã sống trong môi trường Nước Mặn, MÔI TRƯỜNG BÌNH ĐỊNH, trong suốt hơn hai mươi năm. Chính môi trường này đã hun đúc con người này.

Môi trường Nước Mặn là môi trường như thế nào? Đã có nhiều nghiên cứu về vùng đất này rồi, tuy chưa đi đến kết luận thỏa đáng, vì thiếu tài liệu lịch sử chứng minh. Ở đây chúng tôi chỉ xác định những điểm chính sau đây:

-Nước Mặn là Trung Tâm Truyền Giáo của người Công giáo Việt Nam, có thể nói là lâu đời nhất ở Việt Nam. Ngày 18-1-1615 các thừa sai Dòng Tên lần đầu tiên đặt chân đến Cửa Hàn, tạm dừng chân ở Hội An. Đến năm 1618 các thừa sai mới thực sự có được cơ ngơi ổn định, một Trung Tâm Truyền giáo thuận tiện ngoài dự định. Phải thừa nhận công đức của quan trấn thủ Trần Đức Hòa, một nhân vật đặc biệt, một nhân vật kỳ lạ hi hữu. Và rồi bao nhiều việc lạ thường đã diễn ra ở Nước Mặn. Một trong những việc lạ thường phải nói đến là việc trở lại Công giáo của những tăng lữ, trí thức, quan quyền. Theo lời của Pina thì “Tại Pulo Cambi, Cha Buzomi có được hai hay ba ông sãi (bonzo) giúp cha làm mọi việc.” Chăc đó là hai sư cụ đã trở lại đạo: Cụ “Sai-hien” và cụ Đamianô. Tất cả là người Bình Định. Tiêu biểu nhất và lạ lùng nhất là sự kiện trở lại đạo của sứ thần Ignatio cùng phu nhân Ursula của ông. Hai nhân vật này thể hiện rõ nét bản sắc con NBĐ là chân tình, hăng say nhiệt tình và say mê.

-Nước Mặn còn là Trung Tâm dạy tiếng Việt, là nơi huấn luyện và đào tạo các nhà phiên dịch, lâu đời nhất ở Việt Nam. Đa số các thừa sai Dòng Tên  đều học tiếng Việt ở “Trung Tâm Việt ngữ Nước Mặn” này. Tiêu biểu và xuất sắc nhất phải kể đến là Francesco Buzomi, Francisco de Pina, Christoforo Borri, Gaspar Luís, Giovanni Maria Leri, và cả “ông trùm Chữ Nôm” Girolamo Majorica nữa. Các thừa sai Dòng Tên khi đến Nước Mặn công việc đầu tiên trước hết là để học tiếng Việt. Và đó là công việc chính và chủ yếu. Ngoài ra ở đó còn có hai “nhà phiên dịch tài ba” là Augustinô và Phêrô như đã nói ở trên. Ai là người trực tiếp đào tạo những nhà phiên dịch này? Chính Francesco Buzomi.

-Nước Mặn là một trong những nôi Chữ Quốc Ngữ, có thể nói là nơi phôi thai CQN. Đây là nơi CQN manh nha, cũng là nơi CQN hình thành và phát triển. Nhân vật tiêu biểu nhất của Nước Mặn vẫn là Francesco Buzomi.

Nước Mặn, nói riêng, Bình Định nói chung, là một trong những cái nôi CQN, điều này không có nghĩa  đó chỉ là nơi khởi đầu của CQN mà thôi. Bình Định đã cụ thể hóa CQN qua những sản phẩm in, qua nhà in. Chúng tôi muốn nói đến Nhà In Làng Sông, về sau còn gọi là Nhà In Qui Nhơn.

Căn cứ các báo cáo của các Giám mục, Puginier, Charbonnier, Camelbecke, thì nhà in của Giáo phận Đông Đàng Trong, tức nhà in Làng Sông, phải có trước thời điểm năm 1872, và nhà in này đã bị phá hỏng năm 1885. Và có thể, nhà in Làng Sông còn có trước nhà in của Giáo phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn), tức nhà in Tân Định (1867) và các nhà in của Giáo phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội), tức các nhà in Kẻ Vĩnh (còn gọi Ninh Phú), Kẻ Lõi, Kẻ Sở vì những chứng liệu sau đây. Năm1844, phần đất phía Nam của Giáo phận Đàng Trong đã được tách ra để làm Giáo phận mới là Giáo phận Tây Đàng Trong, tức Sài gòn. Năm 1850, phần đất Cao-Miên lại được tách ra làm Giáo phận Nam-Vang. Phần còn lại gọi là Giáo phận Đông Đàng Trong gồm lãnh thổ từ sông Gianh đến Phan Thiết; Tòa Giám mục đặt tại Nước Mặn (Gò Thị). Và Tiểu Chủng viện Làng Sông được thành lập năm 1863. Thông thường thì ở mỗi Giáo phận các cơ sở chính vẫn là Tòa Giám mục, Nhà thờ, Nha Xứ, Nhà Lẫm, Nhà Chung, Nhà Trường (tức Chủng viện), Nhà Phước, Nhà in, Nhà thuốc, Nhà thương, Nhà mồ côi…và tất cả thường đi chung với nhau.

Sau Văn Thân, Tòa Giám mục Đông Đàng Trong và cơ sở Nhà Chung được xây dựng lại năm 1891. Tiểu Chủng viện Làng Sông, ngày nay thuộc thôn Quảng Vân, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, thành lập năm 1863, được xây cất năm 1892. Năm 1925, Tiểu Chủng viện Làng Sông được xây cất lại gồm hai gian nhà gạch xây, mái lợp ngói, có tầng lầu, thay thế bốn nhà tranh cũ. Nhà in nằm trong khuôn viên của Tiểu Chủng viện. Công việc xây cất trong hai năm. Lễ Khánh Thành vào ngày 21 tháng 9 năm 1927. Kiến trúc sư là Linh mục Charles Dorgeville và quản đốc là Thầy Hòa thuộc Hội Thầy Giảng.

Trước năm 1904 Linh mục Paul Maheu có một khoảng thời gian nghĩ dưỡng ở Hong Kong. Nhà điều dưỡng Béthanie rất gần với nhà in Nazareth Hong Kong, tức Nhà in của Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris (MEP). Linh mục Paul Maheu thường lui tới nhà in này để học nghề in ấn với Linh mục Francois Monnier, giám đốc nhà in “quốc tế” này. Và Linh mục Paul Maheu đã trở thành một “thừa sai-in ấn” (missionnaire-imprimeur), chuyên viên kỹ thuật lành nghề in ấn. Kiến thức kỹ thuật in ấn này đã được đem áp dụng ở nhà in Làng Sông từ năm 1904, lúc ông trở lại Làng Sông. Có thể nói nhà in Làng Sông thực thụ trở thành một nhà in chuyên nghiệp và tầm cỡ từ năm 1904. Nhưng Linh mục Paul Maheu chỉ trực tiếp điều khiển nhà in Làng Sông từ năm 1904 đến năm 1913, vì vào tháng năm năm 1913  Linh mục PauL Maheu lại phải về Pháp chữa bệnh và ở đó mãi đến năm 1919 mới trở lại Bình Định. Năm 1929 Linh mục Paul Maheu lại bận bịu một công việc mới là cùng với Bác sĩ Le Moine chăm sóc các người bệnh phong ở Trại phong Qui Hòa. Trong khoảng thời gian 1929 đến 1939 nhà in được giao cho Linh mục Albert Perreaux Người đã thay thế Linh mục Paul Maheu lúc ông vắng mặt và trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến năm 1945, là một nhân vật “sáng giá” khác. Đó là Linh mục Charles Dorgeville, một giáo sư dạy tiếng La tinh, một chuyên viên cơ khí tài năng, một thợ điện lành nghề, và nhất là một công trình sư. Chính ông là tác giả các công trình lớn của Giáo phận Đông Đàng Trong. Nhà In Làng Sông, Nhà In Qui Nhơn là Nhà In lâu đời nhất và có tầm cỡ chuyên nghiệp nhất. Nhà In Làng Sông – Qui Nhơn đã xuất bản nhiều ấn phẩm CQN đạo và đời, đa dạng, giá trị, góp công rất lớn trong việc phát triển CQN.

Chữ Quốc Ngữ là một hiện tượng độc đáo trong lịch sử chữ viết thế giới, là một phương tiện truyền thông hữu hiệu mà người Việt Nam luôn tự hào. Hệ thống chữ viết này có chịu ảnh hưởng hệ thống chữ viết của Bồ Đào Nha, vì những nhà tiên phong sáng tạo CQN có gốc gác hoặc chịu ảnh hưởng Bồ Đào Nha, các vị thừa sai Dòng Tên Tỉnh Dòng Nhật Bản, trong đó còn có sự đóng góp của những người Việt. CQN đã được manh nha, định hình, phát triển, thành tựu trong một khoảng thời gian kéo dài từ năm 1615 cho đến nay. Quá trình hình thành của CQN được phân chia thành nhiều giai đoạn, trong đó có mang dấu ấn của một số người, tiêu biểu và điển hình nhất là Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ). Gần đây trong tinh thần nhìn lại vấn đề, tên tuổi của một vài vị tiên phong đã được nêu lên: Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, Francisco de Pina, Filippo Marini; Pigneau de Béhaine, Jean Louis Taberd, Igesicô Văn Tín, Bento Thiện, Philiphê Bỉnh, Bảo Lộc Nghị, Philiphê Phan văn Minh, Petrus Trương Vĩnh Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của,v.v. Còn chúng tôi ở đây thì đề cao Francesco Buzomi. Nhưng phải nhất trí khẳng định dứt khoát rằng CQN là một công trình tập thể. Và CQN và Tiếng Việt là của người Việt. Đương nhiên CQN có điểm xuất phát, có nguồn gốc và lúc đầu nó đã được “cấy” trong một môi trường nào đó, hoặc những môi trường nào đó. CQN đã từng đươc “cấy” trong MÔI TRƯỜNG BÌNH ĐỊNH, cụ thể là MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶN, một cư sở truyền giáo của người Công giáo. Đây là một sự thật. Và sự thật đã “bị quên”; thậm chí vì một lý do nào đó không được thừa nhận.

Bình Định là một vùng đất văn hóa lâu đời, đặc sắc, đầy tiềm năng. Tương lai còn ở phía trước.

Nha Trang, ngày 14 tháng 12 năm 2015

Petrus Paulus Thống

(Người nghiên cứu Ngôn Ngữ, Chữ Viết cổ đại)

 

 

Tài liệu tham khảo chính

-Alvares, Manuel, De Institutione Grammatica  Libri tres,1572.

-Anchieta,Joseph de, Arte de grammatica da lingoa mais usada na costa do Brasil,1595.

-Barros, João de, Grammatica da Lingua Portuguesa, 1539.

-Henriques, Henrique, Arte da Lingua Malabar, 1549.

-Oliveira, Fernão de, Gramatica da lingoagem portuguesa,1536

-Rodrigues, João, Arte da lingoa de Iapam, Compostapello diuidida en tres livros, 1604.

-Rodrigues,Joao, Vocabulario da lingoa de Iapam, 1603.

-Transcription and Translation of a Yearly Letter from 1619 Found in the Japonica 71 from the Archivum Romanum Societatis Iesu. (MA Thesis, Jason Michael Wilber, 2014)

-Borri, Christoforo, Relatione della Nuova Missione delli P.P. gella  Compagnia di Giesu al Regno della Cocincina, Roma, 1631.

-Marini, Gio Filippo de, Delle Missioni De’ Padri della Compagnia di Giesu, Nella Provincia del Giappone, e parcolamente di quella di Tumkino, Libri Cinque, Roma, 1663.

-Rhodes, Alexandre de, Histoire du Royaume du Tunquin et des grands progrès que la prédication de l’Évangile a faits en la conversion des infidèles. 1651.

-Rhodes, Alexandre de, Divers Voyages et Missions du Père Alexandre de Rhodes en la Chine et autres Royaumes de l’Orient, avec son retour en Europe par la Perse et l’Arménie, Paris, 1653.

-Luis, Gaspar, Histoire de ce qui s’est passé en Éthiopie, Malabar, Brasil, et les Indes Orientales, Paris, 1628.

-Delle Opere Del Padre Daniello Bartoli Della Compagnia Di Gesù Volume XVII. Della Cina Libro Terzo. Torino. 1825.

-Delle Opere Del Padre Daniello Bartoli Della Compagnia Di Gesù Volume XVIII. Della Cina Libro Quarto. Torino. 1825.

-Launay, Adrien, Histoire de la Mission du Tonkin, 1658-1717, I, Paris, 2000.

-Launay, Adrien, Histoire de la Mission de Cochichine, 1658-1823, I, II, III, Paris, 2000.

-Rapports des Évêques, 1873 (E.Charbonnier), 1885 (V.Camelbecke), 1893 (F.Colombert).

-Mémorial, Mission de Qui Nhơn, de 1907 à 1928 (Imprimerie de Làng Sông).

-Otto Zwartjes, Portuguese Missionary Grammars in Asia, Africa and Brazil,1550–1800. (John Benjamin Publisher Company, 2011).

-Ines G. Zupanov, Missionary Tropics,The Catholic Frontier in India (I6th-I7th Centuries).(2005).

-Ines G. Zupanov, Disputed Mission Jesuit Experiments and Brahmanical Knowledge in Seventeenth-century India.(2001).

-Otto Zwartjes, Gregory James, Emilio Ridruejo (eds), Missionary Linguistics/Linguistica Misionera, I, II, III, IV, V, (John Benjamin Publisher Company, 2014)

-Donald F. Lach, Asia in the Making of Europe, Vol. I, II, III, IV, V, (The University of Chicago Press, 1994).

-Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, Quyển I, Sài Gòn, 1959.

-Đỗ Quang Chính, Lịch sử Chữ Quốc Ngữ 1620-1659, Ra Khơi, 1972.

-Đỗ Quang Chính, Dòng Tên trong xã hội Đại Việt, NXB Tôn giáo, 2008.

-Roland Jacques, L’Oeuvre de quelques pionniers portugais dans le domaine de linguistique vietnamienne jusqu’en 1650, Paris, 1995.

-Roland Jacques, Les Missionnaires Portugais et les Débuts de l’Église Catholique au Việt-Nam, Định Hướng Tùng Thư, 2004.

-Roland Jacques, Portuguese Pioneers of Vietnamese Lingustics  – Pionniers Portugais de la Linguistique Vietnamienne. Orchid Press, Bangkok, 2002.