VÀI NÉT ĐẶC THÙ CỦA CA TRÙ VIỆT NAM


Gần đây danh từ “Ca Trù” được rất nhiều người nhắc đến. Báo chí, chương trình truyền thanh truyền hình, sự quan tâm của chánh quyền đối với một bộ môn nghệ thuật rất đặc biệt này nên có rất nhiều trường hợp danh từ “Ca Trù” đã ở trên môi của nhiều người, nhưng mà trong tâm trí và trong lòng của người nói chưa nhận thức được Ca Trù là gì. Thậm chí có người còn hỏi tôi : “Thưa Giáo sư Ca Trù có phải là Chầu Văn không ? Ca Trù có phải là Hát Xẩm không ?” Vì thế, mà hôm nay tôi muốn giới thiệu ngắn gọn những nét đặc thù của Ca Trù Việt Nam, không phải để truyền đạt đến các nhà chuyên môn nghiên cứu hay những giảng viên và học sinh các trường nhạc, vì đã có rất nhiều tài liệu về Ca Trù đã được phổ biến, mà chỉ mong đông đảo bạn đọc xưa nay chỉ mới nghe qua Ca Trù, có được một vài khái niệm về nghệ thuật độc đáo và sâu sắc về nghệ thuật đó của Dân tộc Việt Nam.
I. Ca Trù là gì ? Định nghĩa.
Bạn có biết tại sao người ta dùng danh từ “Ca Trù” để chỉ một cách ca và đàn, mà có người biết dưới tên Hát Ả Đào, Hát Nhà Tơ, và gần đây Hát Cô Đầu.
– Hát Ả Đào tức là một điệu hát do một ả, một thiếu nữ, một ca nương họ Đào. Tất cả những người hát không phải là họ Đào nhưng dưới triều Lý có một ca nương có tài, có sắc mang họ Đào đã được vua Nhà Lý trọng dụng nên sau này đối với những người hát hay, người ta thường cho danh từ Ả Đào (tức là cô gái họ Đào).
– Ca nương trong truyền thống Hát Ả Đào sau khi học được thành nghề phải bắt đầu đi hát trong một Đình thờ trước khi ra mắt với quần chúng, cách hát đó gọi là Hát cửa Đình. Sau đó, có thể hát cho bạn bè thân hữu hay người trong làng nghe, hoặc trong những dịp vui thì gọi là Hát Chơi. Nếu được một nhà quan mời hát để đem vui cho một bữa tiệc lớn thì gọi là Hát cửa quyền. Nếu được những người Trưởng Ty mời hát thì gọi là Hát Nhà Tơ, bởi vì chữ Ty có nghĩa là Tơ.
– Từ thời kỳ Pháp thuộc có nhiều người đọc trại chữ Đào thành chữ Đầu nên Hát Ả đào thường được gọi là Hát Cô Đầu và có rất nhiều “quán ca” được lập ra ở Miền Bắc tại các vùng Khâm Thiên, Vạn Thái, Ngã tư Sở, và trong Nam vùng Phú Nhuận, trong những quán ca hay nhà hát đó có hai loại Cô đầu : “cô đầu hát” là Ả đào chính cống đem tiếng hát, tài năng nghệ thuật để khách mộ điệu đến nghe và thưởng thức câu thơ, tiếng nhạc, lời ca. Nhưng cạnh bên có những “cô đầu rượu” thường không biết hát mà chỉ có chuốc rượu mời khách uống đến say. Lúc canh hát đã tàn “cô đầu hát” đã rời quán thì các “cô đầu rượu” bắt đầu đối với khách với một thái độ thân mật hơn, giả vờ âu yếm nhưng “trong âu yếm có chiều lả lơi” và tuần tự với khách bày chuyện trăng hoa. Quần chúng vì không phân biệt được “cô đầu hát” và “cô đầu rượu”, nên tất cả những ai mang tiếng “cô đầu” đều bị xem là phường bán phấn buôn hương mà người đi nghe “cô đầu” cũng không được coi là một người biết thưởng thức nghệ thuật Ca Trù mà chỉ là những người đi tìm hoa và những thú vui trần tục.
Có nhiều thức giả lại còn cho rằng chữ “cô đầu” thường được dùng để chỉ những người ca nương có nghề nghiệp cao, đã dạy được nhiều học trò thành nghề khi môn sinh hành nghề được tiền thưởng của các “quan viên” (những người sành điệu biết nghe, thưởng thức nghệ thuật Ả Đào) thường lấy một số “tiền đầu” để dâng cho thầy tỏ lòng biết ơn. Người đào nương nào nhận nhiều tiền đầu, được gọi là “cô đầu”. Từ nghĩa “cô đầu” là người đã được môn sinh biết ơn, biết nghĩa, tôn sư trọng đạo thành ra nghĩa một người bán phấn buôn hương thì rất tội cho những người nghệ nhân có công truyền bá một nghệ thuật độc đáo và cao siêu của Dân tộc Việt Nam.
II. Ai là người có thể trở thành ca nương hay là đào nương ?
Theo truyền thống, mỗi nghệ sĩ thành nghề thường dạy cho con cháu của mình trong gia đình chứ không dạy cho người ngoài. Nếu có người ngoài nào vừa có năng khiếu, vừa có quyết tâm thì phải xin vào làm con nuôi của gia đình đó thì mới được truyền nghề. Sau khi luyện tập theo sự chỉ giáo của thầy ít nhất là trong 3,4 năm thì mới được thầy cho rằng đã nắm vững kỹ thuật ca ngâm và gõ phách, và trước khi biểu diễn cho quần chúng thì phải hát cho một số người trong làng sành điệu hoặc biết nghe câu hát, tiếng đờn. Hôm đó mời một người quan viên chưa từng cầm chầu (tức là người vừa nghe vừa điểm trống chầu để chấm câu và để phê phán giọng hát) cho cô ca nương đó. Khi đa số trong cử toạ nhất là quan viên cầm chầu khen rằng ca nương đó chẳng những có giọng hát hay mà biết rành các khổ phách đúng hơi, đúng nhịp. Hôm đó, người thầy sẽ cho phép ca nương mặc áo của nhà nghề đi biểu diễn trước hết trong Đình, để tạ ơn Thần Thánh, Tổ nghiệp rồi mới được biểu diễn trước thính giả. Hôm đó, gia đình đào nương phải làm một bữa tiệc để đãi các vị khách mời và buổi lễ đó gọi là “lễ mở xiêm áo”. Mọi người nhìn nhận là ca nương có đủ tài nghệ nhưng phải là người có tánh hạnh tốt thì mới được phép đi hát cửa Đình, làm lễ ra mắt và sau này muốn đi hát thi thì điều kiện tất yếu là có thanh, có sắc và có đức hạnh.
Cũng theo truyền thống, người kép đàn phải biết rõ ca nương để tiếng đàn có thể quyện vào lời ca một cách nhuần nhuyễn và cũng có ý là không để cho ca nương và kép đàn có được tình ý gì khác hơn tình ruột thịt. Ngày xưa thì anh đờn em ca, cha đờn con ca hoặc là chồng đờn vợ ca, nhưng ngày nay tục lệ đó không còn được giữ một cách chặt chẽ.
Các bạn thấy chăng, muốn trở nên một ca nương không phải bất cứ ai có tiền trả công cho thầy là được, mà muốn được phép hành nghề cũng phải trải qua một lễ mở xiêm áo có qui luật chặt chẽ, chẳng những được thầy mà phải có cả phường, cả làng nhìn nhận. Có tài phải đi đôi với đức, có tài mà không đức thì chẳng được mang danh hiệu Đào nương hay Ca nương. Các bạn đã thấy rõ những điểm khác nhau giữa “cô đầu hát” và “cô đầu rượu”. Những ca nương là những người nghệ sĩ tài đức vẹn toàn, đã chấp nhận đem cả sức lực, học hỏi, luyện tập, trao dồi và giữ gìn một di sản nghệ thuật của cha ông đã truyền lại từ đời trước qua đời sau và đã chịu thử thách của thời gian.
Xin tạm biệt các bạn và lần sau chúng tôi sẽ nói chuyện với các bạn về biên chế và chức năng của một nhóm Ca Trù trước khi nêu ra những nét đặc thù của một bộ môn nghệ thuật mà chúng tôi cho rằng độc đáo, sâu sắc vào bậc nhứt của Âm nhạc truyền thống Việt Nam.

III. Một nhóm Ca Trù có mấy người ?
Nếu các bạn đi nghe một buổi hát Ca Trù, thường thấy trên sạp có 3 người ngồi :
1. Người ngồi giữa là Ca nương hay Đào nương hoặc Cô Đào : là người đã khổ công luyện tập được thầy cho làm lễ mở xiêm áo và giới thiệu Ca Trù cho thính giả mộ điệu. Chẳng những cô ca mà còn phải gõ phách. Một cỗ phách gồm có một bàn phách, một thanh tre hay một miếng gỗ mà Đào nương dùng hai cái dùi để gõ, một dùi được chẻ ra làm hai và một dùi có đầu chuôi nhọn được mang tên là phách cái và phách con (phách âm và phách dương).
2. Bên trái của Ca nương là Kép đàn, không đàn theo một bản nhạc cố định và không đi sát theo nét nhạc của lời ca mà chỉ đàn theo những khổ đàn để mở đầu, theo nét nhạc của lời ca, có lúc chỉ đàn theo tiếng phách (gọi là đón rước) và để chấm dứt. Kép đàn dùng cây Đàn Đáy là một nhạc khí độc đáo của đất nước Việt Nam, được sáng tạo ra từ thế kỷ XV theo một truyền thuyết đã nói trên. Đàn có thùng hình chữ nhật hay hình thang, có cần rất dài, mang 10 hay 11 phím và có 3 dây.
3. Bên phải của Ca nương hoặc ngồi riêng trên một chiếc ghế vì người này là quan viên không thuộc về nhóm Ca Trù. Có thể là một nho sĩ am hiểu nghệ thuật Ca Trù, ngồi đánh Trống Chầu gọi là “cầm chầu”. Trống Chầu là một trống nhỏ có 2 mặt, dùi đánh Trống Chầu thường được gọi là “roi chầu”, dài hơn dùi trống thường. Dùng roi đánh vào mặt trống phát ra một tiếng ‘tom’ ; gõ vào tang trống phát ra một tiếng ‘chát’, vì thế mà thú đi nghe Ca Trù có người thường nói là thú ‘tom chát’. Người cầm chầu phải biết rõ lúc nào đánh vào mặt trống hay gõ vào tang trống, có những khổ trống như khổ đàn và khổ ca.
Người cầm chầu có 3 chức năng :
a. Chấm câu khi Ca nương ca hết 1 đoạn, tức là tham gia vào sự biểu diễn.
b. Khích lệ nghệ sĩ, phê phán, khen thưởng. Khi nghe một câu ca hay, luyến láy khéo thì phải có một tiếng khen bằng cách gõ trên tang trống hay phối hợp cả tiếng ‘chat’ và tiếng ‘tom’ theo những công thức đã được qui định và mang tên đầy thi vị : Xuyên tâm, Song châu, Liên châu, Lạc nhạn, Hạ mã …
c. Giáo dục quần chúng. Thường quần chúng không biết được ca thế nào là hay, đàn thế nào là khéo, nhờ tiếng khen của trống chầu mà lần lần biết được cách nghe và nhận thức được những điểm hay của Ca Trù. Tiếng Trống Chầu của người sành điệu giúp cho thính giả biết thưởng thức và trở nên sành điệu hơn.


IV. Vài nét đặc thù của Ca Trù

1. Ca Trù là một bộ môn nghệ thuật trong truyền thống Việt Nam ; là một sự phối hợp đa dạng, tinh vi mà trong đó thơ và nhạc quyện vào nhau như bóng với hình một cách nhuần nhuyễn, đôi khi với cả múa. Ca Trù có những qui luật chặt chẽ, rõ ràng trong thơ và nhạc, nhưng không quá khắt khe, mà có chấp nhận một vài ngoại lệ.
Hầu hết các loại hình nhạc cổ Việt Nam đều có sự phối hợp giữa thơ và nhạc. Trong dân gian, Vè, đồng dao có thơ 3 chữ, 4 chữ ; hầu hết các bài dân ca Hát Ru, Hò, Lý, đối ca nam nữ, lời ca của các làn điệu Chèo, Hát Văn là thơ lục bát (một câu 6 chữ, một câu 8 chữ), lục bát biến thể (2 câu lục bát có thêm những tiếng đệm có nghĩa hay vô nghĩa để cho nét nhạc và tiết tấu hai câu thơ thay đổi), song thất lục bát (2 câu 7 chữ tiếp theo câu lục bát). Trong nhạc truyền thống bác học có thơ lục bát, lục bát biến thể, lại có thêm các thể thơ theo Đường luật ngũ ngôn thất ngôn.
Ca Trù sử dụng tất cả các thể thơ trên, ngoài ra còn dùng thơ 8 chữ không có trong thi ca cổ, chỉ sau này mới thông dụng trong Thơ mới Việt Nam. Thơ 8 chữ dùng trong Hát Nói, gồm 11 câu chia làm 3 khổ.
Chưa thể loại nhạc cổ nào đa dạng về thơ như vậy.
Ca Trù là một loại nhạc thính phòng, như Ca Huế Miền Trung, Ca Tài tử Miền Nam. Nhưng trong các loại ca nhạc thính phòng khác, bài ca có nét nhạc cố định, nếu đặt lời mới cũng phải tuân theo nét nhạc đó. Riêng Ca Trù, trong các «lối» hay «thể» (khoảng 15 thể Hát Chơi, 12 thể Hát Cửa Đình), giai điệu không cố định mà tùy theo thanh giọng của lời thơ. Thành ra, những bài Gửi Thư, Hát Ru, Bắc Phản, Mưỡu có những giai điệu khác nhau, cùng một thể Hát nói có cả trăm bài (theo sách Ca Trù biên khảo – Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề) .
Mỗi loại thơ đều có nét nhạc và tiết tấu đặc biệt tạo ra nhiều thể trong Ca Trù. Lục bát và lục bát biến thể có trong Mưỡu, Bắc Phản, Xẩm Huê Tình, hay ngâm theo Sa Mạc hoặc Bồng Mạc, thơ 8 chữ trong Hát Nói.
2. Ca Trù có những nét đặc thù trong hai lĩnh vực thanh nhạc và khí nhạc không tìm thấy trong các bộ môn âm nhạc khác.
a. Về thanh nhạc : Có lẽ ngoài hát Tuồng có những kỹ thuật phong phú và độc đáo, còn các bộ môn ca nhạc cổ truyền (kể cả Quan họ Bắc Ninh, Ca Huế trong nhạc thính phòng) đều không có kỹ thuật thanh nhạc phức tạp, tinh vi như Ca Trù.
b. Về khí nhạc : Tiếng Phách phải rõ ràng phân minh, hai phách âm dương chen nhau, xen kẽ, pha trộn, có nhịp mà nghe như không có nhịp, có mà như không, thực mà như hư, hiện mà như ẩn ; Tiếng Đàn Đáy (chỉ dùng duy nhất trong Ca Trù) khi chân phương khi dìu dặt, khi mạnh khi nhẹ, tiếng đàn trong đoạn sòng đầu, lưu không hay phụ hoạ theo lời ca chẳng những có nét nhạc, mà còn tạo nên «hồn nhạc» ; Tiếng Trống Chầu giúp cho thính giả biết thưởng thức nghệ thuật Ca Trù.
3. Ca Trù dùng ít nhân lực mà hiệu quả biểu diễn và nghệ thuật rất cao. Một nhóm chỉ có hai nghệ sĩ biểu diễn và một quan viên vừa tham gia biểu diễn vừa phê phán mà tập hợp nhiều yếu tố nghệ thuật làm cho thính giả có thể nghe hằng giờ, hằng đêm, có khi ngày này qua ngày khác mà không ngán. Người biết nghe sẽ cảm nhận được văn chương bóng bẩy của câu thơ, thang âm điệu thức dồi dào của giai điệu, tiết tấu rộn ràng của tay phách, chữ đàn gân guốc hay bay bướm của anh kép, không khí nghiêm trang hay rộn rã của buổi trình diễn.
4. Ca Trù là một truyền thống xuất phát từ nước Việt chớ không du nhập từ nước ngoài.
Ca Trù được tổ chức chặt chẽ thành phường, giáo phường, do trùm phường và quản giáp cai quản. Ca Trù có qui chế về sự truyền nghề, cách học đàn học hát, có những phong tục trong sự nhìn nhận Đào nương rành nghề, như lễ mở xiêm áo, có những qui chế về việc chọn Đào nương đi hát thi (ngoài tài năng và sắc diện cần phải có đức hạnh tốt).
Ca Trù được nhiều Nhạc sĩ, Nhạc học gia nước ngoài theo học, tìm hiểu, nghiên cứu : TS Barley Norton (Anh) Thạc sĩ Alienor Anisensel (Pháp) GS Stephen Addiss (Mỹ). Ca Trù được giới thiệu tại Đại học Sorbonne Paris, Đại học Hawaii at Manoa Honolulu (GS Trần Văn Khê thuyết giảng).
Kết luận :
Nghệ thuật Ca Trù chẳng những có được bề dày của lịch sư, chiều sâu của nghệ thuật, lại mang được tính chất đặc thù, một bản sắc Dân tộc Việt nam rất rõ rệt, do người Việt Nam sáng tạo từ cách hát, ém hơi, nhả chữ, cách luyến láy, đổ hột, đổ con kiến …, một nhạc khí chỉ có mặt tại Nước Việt Nam mà không có một nhạc cụ nào đồng loại như thế trên thế giới. Nghệ thuật này đã được truyền dạy từ đời này qua đời khác, đã chịu thử thách của thời gian mà ngày nay vẫn còn người bỏ công sưc ra học tập để biểu diễn, là một của quý của Dân tộc Việt Nam.
Các chuyên gia, nghệ nhân, nghệ sĩ nên tổ chức những buổi giới thiệu một cách giản dị và hấp dẫn nghệ thuật Ca Trù bằng những bài thuyết trình ngắn gọn mà đầy đủ, những tiết mục minh họa được các nghệ nhân lão thành và những nghệ sĩ trẻ tuổi biểu diễn. Đối tượng không phải chỉ là những người sành nghề biết thưởng thức Ca Trù mà là những thanh niên sinh viên, học sinh. Khi các bạn trẻ hiểu được thì sẽ yêu thích, tìm tòi học hỏi, luyện tập Ca Trù. Khi có một số nghệ sĩ trẻ biểu diễn Ca trù cho những thính giả trẻ, lúc đó chúng ta mới an tâm rằng nghệ thuật Ca Trù đã có một sinh lực mới và sẽ không bao giờ bị quên lãng nhờ ngọn lửa thiêng đã được nhen nhóm trong lòng của các bạn thanh niên nam nữ.


Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê

Advertisements

Published by

petruspaulusthong

L'enthousiasme seul est la vraie vie (J.F. Champollion)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s