NHỮNG VẦN THƠ CỦA CÁC VỊ TIÊN

NHỮNG VẦN THƠ CỦA CÁC VỊ TIÊN – LA POE’SIE DIVINE

100 năm trước: Thương nòi giống – Thần tiên giáng bút
Nguyễn Xuân Diện

Thưa chư vị,

Dưới đây là bản tiếng Việt (và bản dịch tiếng Pháp) toàn văn bài thuyết trình của chúng tôi tại Trung tâm Văn hóa Pháp diễn ra vào lúc 17h chiều nay. Tuy nhiên, khi trình bày tại hội trường chúng tôi sẽ đưa ra những thông tin mới, chứ không nhất nhất đọc theo bản này. Chúng tôi đưa bài này lên đây trước, là để chư vị có nhiều thuận lợi trong việc tiếp nhận các nội dung sẽ trình bày vào buổi chiều.

Ông Đặng Văn Mừng cũng đã có mặt tại Hà Nội, có thỉnh mang Hạc bút (Đào bút) tới buổi thuyết trình.

Bản tiếng Việt và tiếng Pháp của bài nói chuyện dưới đây cũng sẽ được BTC phát cho quý vị tại cửa Hội trường lớn trước khi vào dự thuyết trình.

.
Trong các nghi lễ của người Việt thời trước, có một không gian nghi lễ khá đặc biệt rất đáng để ý là thiện đàn. Ở đấy diễn ra một hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo là giáng bút – một hiện tượng văn hoá tâm linh có thực trong xã hội Việt Nam, tức là cầu Thánh – Thần – Tiên – Phật cho mình những bài thơ, thông qua một người có năng lực đặc biệt. Song vì nhiều lý do mà giới nghiên cứu đã coi đó là một vùng cấm và không dành cho nó một sự quan tâm thích đáng, ngoại trừ hai học giả là Nguyễn Văn Huyên (Tục thờ cúng thần tiên ở Việt Nam, 1944) và Đào Duy Anh (Hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm, 1989).

Giáng bút là hiện tượng “nhập thần” trong đó thực hiện nghi lễ cầu cúng để mong muốn có sự phán truyền dạy dỗ của thần linh thông qua văn tự (Hán Nôm) mà thư viện Viện Hán Nôm hiện đang lưu trữ 254 cuốn thơ văn giáng bút, với hàng vạn bài thơ, bài văn.

.

Tài liệu có niên đại sớm nhất là năm 1825 được in tại đền Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, nay là di tích Việt Đông hội quán, số nhà 22 Hàng Buồm, Hà Nội. Về niên đại xuất hiện nhiều bản giáng bút nhất là các năm 1870 – 1898 và 1906 – 1911.

Năm 1825 là niên đại của tài liệu sớm nhất hiện biết trong kho sách Hán Nôm. Thế nhưng, Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) một danh sĩ, nhà khảo cứu nổi tiếng thời cuối Lê đầu Nguyễn, trong Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả (A.909) có thuật chuyện ông ngoại của mình như sau: “Cụ có thuật bói tiên, thường lấy cành đào làm thành hình mỏ hạc treo lên một cần trúc, lấy một cái sọt tre đựng đầy ắp cát sạch, đặt cần trúc bên cạnh rồi đốt bùa đọc phép, cái mỏ hạc tự nhiên chuyển động, vạch thành chữ trên cát”. Lời thuật này rõ ràng cho biết ông ngoại của Phạm Đình Hổ là người thực hiện nghi lễ giáng bút cầu văn tự. Qua đây cho thấy, chúng ta có thể vẫn tìm thấy các văn bản giáng bút có niên đại sớm hơn năm 1825 là bản xưa nhất có trong thư viện Viện Hán Nôm.
Bối cảnh chính trị văn hoá xã hội Việt Nam thời Nguyễn
Học giả Việt Nam đầu tiên quan tâm đến giáng bút có lẽ là Lê Quý Đôn. Trong khi đi sứ nhà Thanh (Trung Quốc) ông đã quan tâm tìm hiểu, sưu tầm được sách âm chất văn chú. Năm 1839 Âm chất văn chú được khắc in theo bản cũ do Lê Quý Đôn mang về từ Trung Quốc. Sách dày chừng 350 trang in. Nhưng bản Âm chất văn chú in năm 1839 không phải là bản in giáng bút sớm nhất mà ta thấy được trong kho sách Hán Nôm.
Ngay từ năm 1825, tại đền Hà Khẩu, huyện Thọ Xương (Hà Nội) đã tổ chức khắc in bộ sách Quan Phu tử kinh huấn hợp khắc (AC. 408), 150 trang in. Sách này chép lời giáng bút của Quan Thánh đế quân (Quan Phu tử, Quan Vân Trường).
Suốt nửa cuối thế kỷ XIX, đã có nhiều Thiện đàn được mở ra ở hầu khắp các tỉnh ở Bắc bộ: Hà Nội, Nam Định, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Thái Nguyên, Hải Phòng, Ninh Bình, Hưng Yên, Phúc Yên,…
Nội dung và hình thức thơ ca giáng bút càng về sau càng khác lúc ban đầu. Thời gian đầu là giáng bút của các vị thần của Đạo giáo Trung Quốc như Văn Xương Đế quân, Quan Thánh Đế quân…Các bài thơ văn giáng bút này được in trong một quyển sách và chúng không phải là văn bản có được sau một cuộc giáng bút cầu văn tại Việt Nam. Hay nói khác đi, nó chỉ như một cuốn danh ngôn mà những người tu đạo tâm niệm. Nội dung, do vậy mang tính chung chung. Văn giáng bút ở đây đều bằng chữ Hán, được diễn đạt bằng thơ luật. Về sau, do yêu cầu mới của đời sống xã hội, thơ giáng bút đã thay đổi. Các vị thần linh giáng bút không chỉ là có nguồn gốc Trung Quốc nữa, mà còn có các tiên nho liệt thánh Việt Nam, như Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Trưng Vương, Liễu Hạnh vv…Thơ do yêu cầu phải đến với quảng đại quần chúng nên đã có nhiều thơ lục bát, song thất lục bát. Văn giáng bút cũng phần nhiều không dùng chữ Hán mà dùng chữ Nôm. Các bản sách văn giáng bút cũng được sưu tập ngay từ đàn giáng bút và đưa đi khắc in ngay.
Có tình hình ấy là do bối cảnh chính trị, xã hội Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Ví dụ như khi các sĩ phu Hà thành lập ra hội Hướng Thiện, do Tiến sĩ Vũ Tông Phan làm Hội trưởng thì mục tiêu đặt ra là: Hướng mọi người làm việc thiện, xây dựng một lối sống tốt đẹp, theo chuẩn mực của truyền thống. Về sau, hội Hướng Thiện mở mang thêm các hoạt động văn hoá như: tu sửa tôn tạo di tích đền Ngọc Sơn…
Thực trạng kinh tế, xã hội Việt Nam từ khi Gia Long lên ngôi đến khi Tự Đức cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp tuy đang trong giai đoạn xây dựng kiến thiết nhưng đã dần được củng cố. Việt Nam là một nước độc lập, thống nhất và phát triển có đường hướng. Triều đình Tự Đức sau nhiều “khự nự” đã hoàn toàn bất lực trước sự lấn lướt của Thực dân Pháp và sự “đe dọa” của văn minh phương Tây. Trong triều đình ấy, nội bộ cũng đã có sự phân hóa, chia ra làm hai phái rõ rệt: Chủ chiến và chủ hòa. Vua Tự Đức thì ở phái chủ hòa. Một quan chức trong triều là Dương Khuê dâng sớ đề nghị đánh Pháp. Vua đã phê vào sớ: “ Bất thức thời vụ”, và đày ông đi sơn phòng, trông nom việc khai khẩn ở miền sơn cước.
Chỉ sau khi Tự Đức băng, thì phái chủ chiến trong đám quần thần mới dần trở nên chiếm ưu thế, bởi được vua Hàm Nghi và một trọng thần quyền thế là Trương Đăng Quế làm hậu thuẫn. Năm 1885 phong trào Cần Vương được phát động chính thức và phát triển sâu rộng khắp Trung kỳ, Bắc kỳ.
Phong trào Cần Vương đi vào suy thoái bằng sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Sơn do nhà sĩ phu khoa bảng Phan Đình Phùng làm thủ lĩnh.
Từ sau năm 1897 khởi nghĩa Hương Sơn thất bại, nhiều nơi trong đất nước đã từng có những cuộc khởi nghĩa hay nổi dậy lẻ tẻ. Đòi hỏi của lịch sử về cứu nước, giành lại giang sơn tổ quốc trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
Thơ văn yêu nước thời kỳ này nhằm đến một quần chúng nhân dân đông đảo. Và để phù hợp với việc kêu gọi lòng yêu nước và tự hào dân tộc, các hình thức diễn đạt quen thuộc với đông đảo bình dân được lựa chọn. Thơ lục bát và song thất lục bát được ưa dùng. Những lối nói ẩn dụ về nòi giống, tổ quốc, giang sơn …giàu sức biểu cảm được dùng phổ biến trong các lời văn giáng bút. Các sinh hoạt văn hoá, văn nghệ trong dân gian có lồng ghép thêm những nội dung mới, nhằm thức tỉnh long yêu nước.
Trong các sinh hoạt văn hoá, văn nghệ dân gian, thì kê đàn giáng bút là một hoạt động tín ngưỡng đặc biệt. Ở đó con người giao tiếp với thế giới của Thánh – Thần – Tiên – Phật qua một người có biệt năng. Người này sẽ chuyển các thông điệp bằng văn thơ có nội dung khuyên bảo, răn dạy, kêu gọi của Thánh, Thần cho con người trên cõi trần gian. Hơn nữa giáng bút lại là một hoạt động tín ngưỡng ngưng kết nhiều thành tố đặc sắc của văn hoá dân gian như: thơ ca dân gian, múa dân gian, nghi thức tín ngưỡng…Tham gia vào giáng bút là tham gia vào tín ngưỡng, tham gia vào sáng tạo văn hoá văn nghệ dân gian nhằm tiếp xúc với một tiên giới trong tâm tưởng.
Cũng chính vì hoạt động giáng bút là một hoạt động mang tính tổng hợp như vậy nên đã thoả mãn được nhiều giai tầng công chúng cho dù là các nhà khoa bảng, học hành đỗ đạt cao, nhà nho ở nông thôn, cho đến tầng lớp tiểu thương nơi phố thị, nông dân chốn quê mùa. Sức sống của giáng bút cũng ở đấy. Và sức sống của việc tuyên truyền yêu nước cũng ở đấy. Nó nương vào tôn giáo, tín ngưỡng, nương vào công xã nông thôn để hoạt động và thúc giục quần chúng.
Thực dân Pháp thực sự hoang mang và bối rối khi phải xử trí với tình hình nở rộ của các Thiện đàn và các hoạt đông giáng bút ở khắp nơi. Không tìm được chứng cớ khả dĩ kết tội, đàn áp, thực dân Pháp đã mất ăn mất ngủ với các hoạt động nửa tôn giáo, nửa cách mạng đang lan tràn và phát huy tác dụng và thanh thế ở khắp nơi.
Tại Văn Hiến đường, xã Hạ Mỗ (huyện Đan Phượng, Hà Tây), năm 1930 tay sai đã về tịch thu các ván in và bộ sách Cổ kim truyền lục đã được in ấn và đang lưu hành ở đây.
GS. Đào Duy Anh, trong bài Tìm hiểu phong trào Thiện đàn đối với cuộc vận động ái quốc – Kinh Đạo Nam dài 25 trang in trong tập hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm (Nxb Trẻ, 1989) có cho biết :
“Ông Nguyễn Ngọc Tỉnh kể lại rằng trong thời gian giáng bút và ấn hành bản kinh này thì Lý trưởng và Phó lý xã Hạc Châu sợ liên luỵ nên đã báo cáo cho quan lại sở tạị. Chính quyền thực dân giao cho Bùi Bằng Đoàn bấy giờ làm Tri phủ Xuân Trường điều tra. Bùi Bằng Đoàn cho vợ có sai nha đi theo đến đàn để thử, viết một tờ sớ bỏ vào phong bì kín. Hàng ngày khách thập phương qua lại để lễ và xin kinh rất đông, nhiều người sang trọng, cho nên chẳng ai để ý đến đó là bà phủ Xuân Trường. Theo lệ thì người đến lễ đặt phong bì kín lên bàn thờ, Thánh phải giáng bút chỉ tên người ấy, có đúng thì người ta mới tin. Thánh bèn giáng bút cho ngay một câu thơ rằng:
Côn dược thiên trùng thương hải ngoại;
Bằng Đoàn vạn lý tử tiêu gian.

Thế là chỉ rõ tên Bùi Bằng Đoàn ra bằng một câu thơ, mà các nhà Nho học giỏi đều nhận là rất hay, bình thường khó có người tức tịch làm ra được, huống chi người cầm kê đây là người sức học cũng tầm thường.
Bùi Bằng Đoàn do đó tin là có tiên thánh giáng bút thực, báo cáo lên tỉnh rằng đó là việc tôn giáo thực chứ không phải là hoạt động chính trị như hương lý báo. Sau đó án sát Nam Định là Mai Toàn Xuân cũng cho vợ đến lễ để đặt phong bì kín và thử như thế. Bùi Bằng Đoàn là người Nho học có tiếng cho nên được giáng bút một câu thơ chữ. Mai Toàn Xuân xuất thân là bồi Tây nên ít học, chỉ được giáng bút một câu thơ Nôm, nhưng cũng vạch rõ cả ba chữ họ tên như vẽ ra:
Đầu cành Mai mới điểm hoa;
Non sông bốn bể đâu mà chẳng Xuân ?

Sau đó tỉnh báo cáo lên Thống sứ rằng đây chỉ là một hoạt động tôn giáo, không nên ngăn cấm. Vì thế mà bản kinh in xong vào mùa Đông năm 1923 được phát hành ở Bắc kỳ, rồi sau đó được phát hành bằng quốc ngữ ở Nam kỳ. Các mùa hè năm 1924, 1925, 1926 ông Nguyễn Ngọc Tỉnh đều được Đồng Lạc Khuyến Thiện đàn ở Nam Định nời đến giảng kinh Đạo Namcho tín đồ của đàn ấy nghe. Nhưng đến năm 1929, trong cuộc đàn áp dối với các đảng bí mật tiến hành ở khắp bắc kỳ, chính quyền mới soát nhà mà tịch thu tất cả bản kinh còn lại và các tấm ván in để huỷ đi và bắt đàn chủ là ông Nguyễn Đức Kinh và chủ bút là ông Nguyễn Ngọc Tỉnh làm án giám”.(Sđd tr.200-224).
Như vậy là, các Thiện đàn trong suốt quá trình hoạt động của mình luôn gặp phải sự dò xét của thực dân Pháp và quan lại phong kiến Nam triều. Có một thực tế là chính nhờ vào hình thức giáng bút, như một hoạt động mê tín dị đoan, các bài hát bài thơ yêu nước thương nòi và nặng lòng với văn hoá dân tộc đã được lưu truyền. Các thành viên của các phong trào yêu nước đấu tranh cách mạng cũng nhờ đó mà thoát khỏi sự rình rập và đàn áp của kẻ thù.
Thiện đàn với cuộc vận động ái quốc

.

Vận động ái quốc, trước hết các nhà yêu nước kêu gọi lòng thương yêu của những người cùng nòi giống, mà ở đây cụ thể là giống da vàng con Lạc cháu Hồng cùng chung một bọc. Các thiện đàn thường tổ chức các buổi giảng kinh, các bản kinh này thường là có được sau khi xin được của mộth vị thần thánh nào đó. Thời gian đầu các vị thánh giáng bút thường là các danh thần võ tướng các thần linh của thần điện Trung Quốc, song càng về sau các vị thần giáng đàn lại là các vị danh thần võ tướng các thần linh trong thần điện Việt Nam như Tản Viên Sơn Thánh, Liễu Hạnh Công chúa, Phùng Khắc Khoan, Tô Hiến Thành, Bà Triệu, Hai Bà Trưng, các Thánh Mẫu,…
Những năm đầu thế kỷ này, trước tình hình bị giặc Pháp đàn áp nặng nề, một số cơ sở vận động yêu nước tại Hà Nội và các đô thị phải chuyển về vùng nông thôn phụ cận. Một trong những cơ sở có hoạt động mạnh là Văn Hiến đường ở làng Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng (Hà Tây). Văn Hiến đường hoàn thành vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1909), là nơi thờ Thái uý Tô Hiến Thành và các vị tiên hiền của làng. Thực ra thì trước đó, vào năm 1907, Thiện đàn ở đây đã cho khắc in bộ sách Cổ kim truyền lục đề tuyên truyền vận động yêu nước. Bộ sách gồm 4 tập Nguyên – Hanh – Lợi – Trinh với gần 400 bài thơ văn, bao gồm nhiều thể loại, viết bằng chữ Hán, do tập thể tác giả đều là người địa phương sáng tác. Văn Hiến đường hiện có đôi câu đối về việc giáng bút và khắc in kinh :
Kinh điển bản tàng Tiên hiền giáng bút thuỳ kinh điển
Cổ kim truyền lục Vãng thánh di thư diệu cổ kim

(Kinh điển bản khắc Tiên hiền giáng bút truyền kinh điển
Cổ kim truyền lục Thánh hiền di cảo sáng cổ kim)
Tại Hạ Mỗ, không chỉ Văn Hiến đường là nơi có giáng bút mà giáng bút còn được tổ chức trong chùa Hải Giác nữa. Và Cổ kim truyền lục chính là tập thơ văn được tập hợp sau gần 4 tháng giáng bút. Về cách phát hành thì phát cho mọi nhà, biếu tặng các nơi với mục đích: Thư lai địa địa, tuyên truyền vạn vũ (sách đến mọi nơi, tuyên truyền khắp chốn. Văn Hiến đường cũng còn là nơi bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Tháng 4 năm 1996, khi về Hạ Mỗ để lấy tài liệu tôi còn thống kê được 14 tên sách / bộ sách Hán Nôm tại Văn Hiến đường: như: Thiên ất chân kinh (in, Bảo Đại 8 ), Văn Xương đế quân cứu kiếp bảo sinh kinh (in, 1911), Ngọc Hoàng chân kinh (viết tay), Ngọc Hoàng phổ độ tôn kinh (2 bản in, Bảo Đại 8), Liệt thánh bảo cáo (in), Ngũ phúc kinh .Tập Ninh (in), Tâm pháp thiết yếu chân kinh (2 bản in, Bảo Đại Mậu Thìn), Bảo huấn hợp thiên (in, Tự Đức Bính Tý), Lã Tổ trung hiếu cáo (in, Thành Thái ất Tỵ), Dược sư kinh,…
Thơ văn giáng bút đã được lưu truyền khá rộng rãi trong nhân dân vùng xứ Đoài. Hình thức lưu truyền quảng bá thơ văn yêu nước trong khuôn khổ của một hình thức của tôn giáo, và nhất lại là trong bối cảnh xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám đã gây ảnh hưởng lớn và có hiệu quả rõ rệt.
Thiện đàn với công cuộc chấn hưng văn hóa dân tộc
Đóng góp của các thiện đàn trong công cuộc chấn hưng văn hoá dân tộc là một đóng góp quan trọng của các thiện đàn. Đóng góp này thể hiện trên hai khía cạnh: Xây dựng, giữ gìn nếp sống văn hoá theo chuẩn mực của truyền thống và Tu bổ tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá, in ấn các kinh sách.
Xây dựng và giữ gìn nếp sống văn hoá theo chuẩn mực của truyền thống là một yêu cầu của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trước hết là sinh hoạt của thị dân ở đô thị. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người Pháp đã đặt xong nền đô hộ lên Bắc Kỳ, Trung Kỳ. Sự phân hóa giai cấp diễn ra nhanh chóng trong toàn bộ xã hội. Luân lý cổ truyền cùng các giá trị đạo đức truyền thống rạn nứt trước sự xâm thực của văn minh phương Tây. Nhiều tỉnh lỵ, huyện lỵ được mọc lên bên cạnh những trục đường giao thông lớn nhỏ, kéo theo quá trình “Âu hóa” rất mãnh liệt.
Ở nông thôn bộ máy lý dịch đã trở nên tha hóa. Bức tranh nông thôn Việt Nam trong suốt thời gian hàng thế kỷ là một khoảng tối tăm với một đời sống khổ cực và những áp bức nặng nề của bộ máy cường hào, lý dịch.
Trong tình hình xã hội như vậy việc gióng lên tiếng trống thức tỉnh cách mạng, kêu gọi chấn chỉnh nếp sống theo mẫu mực truyền thống là một công việc có ý nghĩa.
Các thiện đàn đã mọc lên ở khắp mọi nơi và hoạt động khá sôi nổi trong cuộc chấn hưng văn hoá dân tộc. Các buổi giảng thiện được thực hiện đúng theo lịch đã định sẵn, có đông đảo nhân dân tham dự. Việc tu bổ và tôn tạo các di tích được nhiều người hưởng ứng, và rất nhiều văn bia hiện đặt trong các di tích đã ghi lại việc sửa chữa, tôn tạo này.
Đền Ngọc Sơn – trụ sở Hội Hướng Thiện, cơ sở in ấn tàng bản và công cuộc chấn hưng văn hóa dân tộc
Trong số các thiện đàn đã biết thì đền Ngọc Sơn là một cơ sở tiêu biểu nhất. Đền Ngọc Sơn không những là một cơ sở được thành lập sớm nhất, có đóng góp toàn diện nhất, là một cơ sở in ấn và tàng bản lớn nhất, mà còn có vai trò như là một trung tâm có sức lan toả rất lớn, trong phạm vi khắp cả đông bằng châu thổ Bắc bộ, nếu không muốn nói là trong cả miền Bắc.
Theo bài văn bia Ngọc Sơn đế quân từ ký do Tiến sĩ Vũ Tông Phan soạn năm 1843 thì đền Ngọc Sơn do hội Hướng Thiện tạo dựng năm 1842. Ngoài mục đích thờ thần thánh, đây còn là nơi cho “sĩ phu kết bạn với nhau yêu cảnh này, vì mến tên hồ này việc tu dưỡng, du ngoạn, nghỉ ngơi đều có nơi có chốn”.
Từ sự thống nhất trong hội Hướng Thiện, chủ trương chấn hưng văn hoá của Hội được các nhà khoa bảng có uy tín trong hội và khắp Hà thành tán dương và coi là mục đích cao nhất của hội. Việc đầu tiên mà các nhà Nho hướng đến là hướng dẫn cho mội người tu dưỡng chính bản thân mình, trước hết là ngay là sự chính tâm (ngay thẳng) và ngăn chặn những dục vọng xấu nảy sinh trong ngay chính lòng mình.
Đền Ngọc Sơn đã được biến thành một giảng đàn là nơi mà đều đặn vào các ngày 2 và 16 âm lịch hàng tháng hội tổ chức giảng thiện. Cũng tại đây đã tiến hành các buổi giáng bút để xin những lời dạy của Thánh nhân qua một người trung gian. Các bản kinh in ở đền Ngọc Sơn đại bộ phận đều là các kinh giáng bút bằng chữ Hán, ghi lời giáng bút của các vị thần thánh có nguồn gốc từ Trung Quốc như Quan Thánh Đế Quân, Văn Xương Đế Quân. Tuy nhiên, nội dung lời văn của các bản kinh này lại rất phù hợp với tôn chỉ mục đích của Hội như: Tự giác ngăn ngừa các thói tham lam, độc ác, dâm loạn, gian dối…, khuyên hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng người trên, thương kẻ khốn cùng, chuyên cần học tập, chăm chỉ làm ăn…Mượn lời dạy của thần tiên nhưng các bản kinh được in tại đền Ngọc Sơn không hề đưa lại một tinh thần xuất thế, lảng tránh cuộc đời thực mà ngược lại lại rất tích cực. Và có lẽ cũng chính vì thế, các kinh văn giáng bút được in ra ở đây được lưu truyền rất rộng khắp trên nhiều địa phương cho tới tận Cách mạng Tháng Tám 1945.
Một khía cạnh khác trong việc chấn hưng văn hoá dân tộc của hội Hướng Thiện ở đền Ngọc Sơn là tu bổ tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá. Tại khu vực xung quanh Hồ Gươm, hội Hướng Thiện đã tôn tạo Trấn Ba đình, trùng tu đền Ngọc Sơn, xây Tháp Bút và Đài Nghiên… Khu vực Hồ Gươm có được khuôn mặt như ngày nay là do những lần tu bổ tôn tạo này. Không những thế, với tình cảm yêu mến Thăng Long, các nhà nho trong hội Hướng Thiện còn sáng tác biết bao áng văn thơ đề vịnh trên những di tích danh thắng Hà Nội.
Đền Ngọc Sơn là một cơ sở in ấn và tàng bản lớn nhất trong suốt khoảng 100 năm (1845 – 1945). Vậy trong khoảng 100 năm ấy tại đền Ngọc Sơn đã có bao nhiêu bộ sách ra đời và đi vào đời sống xã hội? Mới đây, Vương Thị Hường dựa vào hai cuốn sách Các đẳng kinh bản Ngọc Sơn thiện thư lược sao mục lục (A.1116), Cao Vương kinh chú giải (AC.438) cho chúng ta biết danh mục sách Hán Nôm in tại đền Ngọc Sơn gồm 246 tên sách (mỗi tên sách có thể là một bộ với nhiều cuốn) thuộc nhiều môn loại khác nhau như tôn giáo, văn học, sử học… (Tạp chí Hán Nôm số 1 -2000).
Có một điều đáng chú ý là khi chúng tôi khảo sát các sách in kinh giáng bút thì thấy có hiện tượng một số nơi (các thiện đàn) đã mượn ván in kinh giáng bút của đền Ngọc Sơn về in và phát hành.
Như vậy là trong suốt một trăm năm đền Ngọc Sơn đã là một cơ sở in ấn tàng bản lớn của cả vùng châu thổ Bắc bộ, nơi đặt trụ sở của hội Hướng Thiện với các hoạt động thiết thực trong việc chấn hưng văn hoá dân tộc. Cũng chính vì lẽ đó mà cuối năm 1945, Hồ Chủ Tịch đã đến thăm hội Hướng Thiện, trò chuyện với các hội viên của hội và căn dặn: “Các cụ đã cao tuổi mà vẫn còn giảng Thiện cho bà con theo, thế là rất quý. Tôi xin phép gợi thêm vài ý. Tôi nghĩ điều Thiện lớn nhất là yêu nước. yêu dân chủ, điều ác lớn nhất là xâm lược, áp bức. Tôi đề nghị các cụ khi giảng Thiện nên chú ý khuyên đồng bào bảo vệ độc lập, tự do và tăng gia sản xuất, xây dựng dân chủ”(Theo Nhân dân, 22 – 8 – 1990).
Nội dung thơ văn giáng bút
Nội dung thơ văn giáng bút cũng chính là nội dung, mục đích hoạt động của các thiện đàn. Đó là một chương trình tuyên truyền rộng khắp trong suốt thời gian nửa cuối thế kỷ XIX và nửa đâù thế kỷ XX tập trung vào hai vấn đề: Kêu gọi lòng yêu nước thương nòi và Chấn hưng văn hoá dân tộc.
Kêu gọi lòng yêu nước thương nòi:
Đây là một chủ đề lớn của thơ văn giáng bút nói riêng và thơ văn yêu nước cách mạng nói chung. Trong thơ văn giáng bút, điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau:
– Giáng bút lời của các vị anh hùng liệt nữ của dân tộc như: Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Liệt nữ “Tiết hạnh khả phong” ở làng Đông Ngạc…
– Giáng bút lời của các vị thần tiên trong thần điện Việt Nam như: Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương, Liễu Hạnh Công chúa, Từ Đạo Hạnh…
– Giáng bút lời các tiên nho, các nhà văn hoá của Việt Nam như: Tô Hiến Thành, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Bà tổ nghề thao ở Triều Khúc…
Ngoài ra thơ văn giáng bút còn nhắc nhớ thúc giục lòng yêu nước, thương yêu giống nòi, thấy được nỗi nhục của dân mất nước.
Chấn hưng văn hoá dân tộc, xây dựng nếp sống mới:
Về nội dung này, thường được biểu hiện như sau:
– Đề cao việc nâng cao dân trí
– Bài bác hủ tục
– Đề cao phụ nữ (giáng bút lời Thánh mẫu cho phụ nữ)
– Khuyên sống lương thiện, thương yêu đùm bọc nhau
– In ấn kinh sách về tôn giáo, lịch sử, văn học, ngôn ngữ
Hình thức và Nghệ thuật thơ ca giáng bút:
* Về mặt văn tự:
Thơ ca giáng bút chủ yếu viết bằng chữ Nôm – một sáng tạo của người Việt Nam, dùng ký tự Hán để ghi âm Việt nên không gặp trở ngại về mặt văn tự đối với người bình dân nhất là trong việc truyền miệng. Ta biết rằng, trong khi triều đình nhà Nguyễn tổ chức Nhà nước và các thiết chế văn hoá theo Nho giáo rập khuôn nhà Thanh Trung Quốc, thì trong dân gian, tư tưởng và văn chương bình dân lại dường như cũng có một sức sống riêng. Ví dụ rõ nhất là khắp các nơi trong nước hàng loạt các hiệu, đàn, trai, đường, lâu… đã ra đời làm nở rộ nghề in. Tại các nhà in này, mảng truyện Nôm đặc biệt phát triển so với trước đó. Thời kỳ này ngoài việc tái bản những cuốn cũ còn có thêm nhiều đầu sách mới nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần người dân. Riêng cuốn Phạm Công – Cúc Hoa, từ năm 1907 đến năm 1936, được in cả thảy 15 lần (trong phạm vi cả nước). Đặc biệt là Truyện Kiều được in cả thảy là 32 lần. Trong số 25 lần in có ghi rõ thời gian và nhà tàng bản thì có tới 16 lần được in tại Hà Nội.
Về việc sử dụng chữ Nôm và chữ Hán trong một tài liệu giáng bút, chúng ta ghi nhận một số điều sau: Có cuốn toàn Nôm, có cuốn là Hán xen Nôm. Văn giáng bút chữ Hán thường là giáng bút của các vị thần linh Trung Quốc, hoặc các vị Nho học, hoặc hướng đến đối tượng là người có chữ nghĩa. Văn giáng bút chữ Nôm, ngược lại, thường là giáng bút của các vị thần linh Việt Nam, hoặc là các thánh mẫu, hoặc dành cho đối tượng là đông đảo tầng lớp bình dân. Một vấn đề khác, văn giáng bút chữ Nôm bao giờ cũng có độ dài dài hơn các bài giáng bút bằng chữ Hán. Còn về thể loại, văn giáng bút Nôm thường chọn các thể thơ lục bát hoặc song thất lục bát, hoặc các thể thơ có khả năng diễn đạt phong phú nhiều nội dung.
Thơ văn giáng bút, để đạt được mục tiêu phát hành và tuyên truyền như trong lời nói đầu bộ Cổ kim truyền lục là: “Thư lai địa địa, tuyên truyền vạn vũ” (Sách đến mọi nơi, tuyên truyền khắp chốn) thì nhất định phải dùng chữ Nôm.
* Về mặt thể loại:
Thơ văn giáng bút nhằm đến nhiều đối tượng khác nhau, với mỗi loại đối tượng đã dùng các thể thơ khác nhau.
Các tài liệu giáng bút thường ghi rất rõ về thời điểm giáng bút (giờ, ngày, tháng, năm) và thậm chí có tài liệu còn ghi rõ bài thơ văn giáng bút này là dành cho ai quê quán ở đâu. Ví dụ trong cuốn Bản thiện kinh (AB.355) có ghi tường tận như vậy.
Phù hợp với từng đối tượng, từng nội dung tuyên truyền, về mặt hình thức, đã có các thể thơ sau được dùng: Phú, Thơ luật, Lục bát, Song thất lục bát, Phong dao, Hát Xẩm, Từ khúc,Hát nói (Ca trù), Gửi thư (Ca trù), Ngụ ngôn, Tiểu thuyết…
* Về việc minh họa:
Tài liệu giáng bút hiện có trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ yếu là sách in bản khắc gỗ (226 bản in / 254 bản sách) Trong đó có một số các văn bản thơ văn giáng bút hiện có tại thư viện Viện Hán Nôm có nhiều cuốn có các đồ họa. Thiết nghĩ, rồi đây những đồ họa này sẽ trở thành những tài liệu cho một công trình chuyên khảo về Đồ họa Đạo giáo nói riêng và Nghệ thuật Đạo giáo nói chung.
Kết luận:
Với 98 Thiện đàn hiện biết tại các địa phương trong hầu khắp các tỉnh miền Bắc là nơi có lưu truyền/sáng tác/in ấn/tàng bản kinh văn giáng bút cho thấy sự hoạt động sôi nổi của các Hội Hướng Thiện, Thiện đàn trong khoảng một trăm năm từ 1845 đến 1945. Các Thiện đàn và Hội Hướng Thiện, trong đó tiêu biểu nhất là Hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn đã có những đóng góp lớn trong việc chấn hưng văn hoá dân tộc.
Tư liệu thơ văn giáng bút tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn 254 cuốn. Kinh giáng bút được in nhiều vào các khoảng thời gian các năm 1870 – 1898 và 1906 – 1911. Nội dung thơ văn giáng bút cũng chính là nội dung, mục đích hoạt động của các Thiện đàn. Đó là một chương trình tuyên truyền rộng khắp trong suốt thời gian nửa cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX tập trung vào hai vấn đề: Kêu gọi lòng yêu nước thương nòi và Chấn hưng văn hoá dân tộc.
Văn thơ giáng bút càng về sau càng sử dụng nhiều chữ Nôm và các thể thơ ca dân gian để thể hiện các lời dạy dỗ của các thần linh đất Việt. Điều này càng khẳng định chữ Nôm vẫn giữ vai trò nhất định trong khoảng thời gian cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, trong khuôn khổ các phong trào yêu nước. Trong hoạt động của mình các thiện đàn đã sử dụng thành công chữ Nôm trong việc kêu gọi lòng yêu nước và chấn hưng văn hoá dân tộc.
Một giá trị rất đặc biệt của thơ văn giáng bút cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, là dưới ảnh hưởng của các phong trào yêu nước, đã làm phát khởi những biểu tượng mới trong văn hóa Việt Nam mà trước đó ít khi được nhắc đến. Đó là những biểu tượng về Quốc Hồn, Quốc Túy, Quốc Dân, Nòi Giống, Giống Lạc Hồng, Con Rồng Cháu Tiên được nhắc đến rất nhiều, rất khẩn thiết và nhằm đến đối tượng là các tầng lớp nhân dân lao động%.

.

La poésie divine
Il y a 100 ans, attristées par le sort des êtres humains, les divinités leur ont inspiré des vers !

.

Dr. Nguyên Xuân Dien
Il existait dans la vie spirituelle des Vietnamiens un espace rituel bien spécial qui mérite toute notre attention, “thiện đàn” qu’on peut traduire en français par “Autel du bien”. Cet espace est réservé à une activité littéraire spirituelle très originale que l’on appelle “giáng bút” – “poésie divine” en français. Ces poèmes divins (en prose ou en vers) ont été présentés au public lors de cérémonies, pendant un siècle de 1845 à 1945. Au cours de ces présentations, des prières sont adressées aux dieux pour leur demander de transmettre aux hommes des poèmes, grâce à une personne élue dite “surnaturelle”. Néanmoins, pour un certain nombre de raisons, ce phénomène a été considéré comme un domaine sensible et marginal, et a été négligé par les chercheurs, à l’exeption de deux intellectuels : Nguyên Van Huyên et Dao Duy Anh.
En fait, composer des vers par “inspiration divine” est un phénomène surnaturel ou un rite d’“incarnation” par lequel les enseignements des génies sont transmis et retranscrits en caractères sino – vietnamien (Han Nôm). La bibliothèque Han Nôm conserve actuellement 254 ouvrages, de dizaines de milliers de poèmes (en prose ou en vers). Le document le plus ancien date de 1825. Il a été imprimé au temple de Hà Khâu – district de Tho Xuong (Actuellement, c’est le vestige de Việt Đông Hội Quán au 22 rue Hàng Buôm à Hanoï. C’est dans les périodes 1870 – 1898 et 1906 – 1911 que les poèmes composés par inspiration étaient les plus nombreux.

Le document de poèmes divins “giáng bút” le plus vieux date de 1825. Mais Pham Dinh Hô, lettré et chercheur de renom à la fin de la dynastie des Lê et au début de celle des Nguyên, a raconté dans “Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả” l’histoire sur son grand père maternel: “Mon grand père, lorsqu’il pratique la devination, prend une branche de pêcher, en fait un truc semblable à un bec de harpe, puis le pend sur une perche en bambou. Après, il prend une corbeille tressée en bambou remplie de sable propre, installe la perche en bambou à côté de la corbeille, puis brûle un talisman en murmurant une formule magique. Le bec d’harpe s’agite soudainement, dessinant sur le sable des caractères”. Cet extrait montre clairement que le grand père maternel de Pham Dinh Hô a pratiqué un rite de demande de lettres.

Le contexte politique et culturel de la société vietnamienne sous la dynastie des Nguyên
Le premier intellectuel vietnamien qui s’est intéressé par les rites de demande de lettres était Lê Quy Dôn. Pendant sa mission diplomatique en Chine, il a pu se procurer le livre “Âm chất văn chú” (Notes sur les choses miraculeuses). En 1839, on a fait imprimer d’autres versions sur bois gravé de l’ouvrage original rapporté au pays par Lê Quy Dôn. La nouvelle version a 350 pages. Néanmoins, ce n’est pas le document “giáng bút” le plus ancien qu’on a pu trouver dans le patrimoine des œuvres en caractères sino-vietnamiens.

Dès 1825, on a fait imprimer à l’aide de planches gravées l’ouvrage “Quan Phu tử kinh huấn hợp khắc” (Les enseignements du mandarin Vân Truong) (AC.408) – 150 pages). Cet ouvrage comprend les vers “giáng bút” du mandarin Vân Truong (Quan Vân Truong). Durant toute la deuxième moitié du 19ème siècle, des Autels du Bien se sont multipliés dans presque toutes les provinces du Tonkin: Hanoï, Nam Dinh, Ha Dông, Son Tây, Hai Duong, Bac Ninh, Bac Giang, Thái Bình, Thai Nguyên, Hai Phong, Ninh Bình, Hung Yên, Phuc Yên etc. Mais les contenus et les formes des œuvres “giáng bút” différaient de ce qu’elles étaient à leur début.

Au début, il existait des compositions “giáng bút” des saints taoïstes chinois comme Van Xuong De Quan, Quan Thanh De Quan etc. Ces œuvres étaient rassemblées dans un ouvrage et n’étaient pas le fruit d’un rite de demande de lettres, se déroulant au Vietnam. Autrement dit, c’était un livre rassemblant de belles paroles d’hommes célèbres, récitées souvent par les religieux. Leur contenu était assez général. Quant à la forme, c’était des œuvres écrites en caractères chinois, selon les règles poétiques classiques. Mais après, pour répondre aux nouveaux besoins de la société, les compositions littéraires “giáng bút” ont évolué. On a découvert alors des figures de saints vietnamiens comme Trân Hung Dao, Pham Ngu Lao, Trung Vuong, Liêu Hanh, etc. derrières plusieurs nouvelles compositions. Les compositions poétiques selon la mètre six-huit ou selon la mesure sept-sept – six – huit étaient plus nombreuses pour séduire un public plus nombreux.
Par ailleurs, les caractères sino-vietnamiens remplacaient peu à peu l’écriture chinoise. Très souvent, les œuvres, dès leur composition lors d’un rite de demande de lettres, étaient rassemblées pour être imprimées immédiatement. Ce changement était largement du au contexte socio-politique favorable du Vietnam à l’époque. Par exemple, lorsque les lettrés de la terre de Thang Long ont créé l’Association “Regard vers le bien” dont le président était le docteur Vu Tong Phan, cette association a proposé que tous ses membres regardent vers le bien, font de beaux gestes, édifient un mode de vie sain selon les rites traditionnels. Puis, l’association “Regard vers le bien” s’est aussi impliquée dans plusieurs actions culturelles, comme restaurer le temple du Mont du Jade, par exemple.
Le roi de Tu Duc, après peu de résistance, s’est laissé dominer par les colonialistes français et l’agression de la civilisation de l’Occident. La cour royale, elle-même, était très divisée. Il existait deux factions principales: l’une préconisait la guerre et l’autre la paix. Le roi Tu Duc faisait partie du deuxième camp. Un mandarin, Duong Khe a proposé au roi de résister contre les Français, Tu Duc a immédiatement décidé de l’envoyer en exil dans une région lointaine.

C’ést seulement après la mort de Tu Duc que les mandarins du camps qui voulait la guerre a gagné sa positon plus forte. Le roi Ham Nghi était soutenu par un mandarin très influent: Truong Dang Quê. En 1885, le mouvement de Cân Vuong était lancé et gagnait de l’ampleur partout dans le Centre et le Nord du pays. Mais finalement le mouvement de Cân Vuong se désintègrait avec la défaite de la révolte de Huong Son dirigée par Phan Dinh Phung, un lettré patriote.

Depuis la défaite de la révolte de Huong Son, le pays voyait se produire parfois de petites révoltes de par et d’autre. L’envie de sauver le pays devenait plus que jamais pressante. Les lettrés patriotiques tentaient de s’adresser au peuple, en adoptant un ton plus populaire. Les poèmes selon les mètre six-huit et sept-sept-six-huits devenaient courants. Les expressions métaphoriques qui font allusion à la race vietnamienne, à la Patrie, au territoire, etc. étaient très présentes.

Le rite de demande des lettrés est en fait une forme de croyance exceptionnelle par laquelle l’homme souhaite communiquer avec le monde des saints, génies, fées et bouddhas par l’intermédiaire d’une personne dite “surnaturelle”. Cette personne transmet des enseignements ou des appels des saints ou génies sous forme de vers ou de prose aux êtres humains. Mais cette croyance est spéciale dans la mesure où on y redécouvre les quintessences de la culture folklorique, qu’il s’agisse de la poésie, de la danse ou des rites de croyance etc. Prendre part à une séance de demande des lettres signinife la participation à une activité de croyance, autrement dit à une création culturelle folkorique censée permettre aux hommes de communiquer avec un monde qui n’existe que dans l’imaginaire. Puisqu’il s’agit d’une activité de caractère synthétique, elle satisfait les besoins de la société: les lauréats de concours aux divers échelons, docteurs, lettrés dans la campane ou des petits commerçants en villes jusqu’aux paysans. C’est aussi dans la population que cette activité puise sa forte vitalité, et c’est aussi de cette manière qu’elle se rend utile à la masse, au peuple donc.

Le développement des Autels du Bien et des activités de demande de lettres dans le pays ont inquiété les colonialistes français. En 1930, dans la commune de Ha Mô du district de Dan Phuong de Hà Tây, ils ont confisqué des planches gravées servant à l’impression de la collection “Cổ Kim Truyền Lục” – “Les vieilles et nouvelles histoires”
Le professeur Dao Duy Anh, dans une étude sur le mouvement des Autels du Bien et son rôle vis-à-vis du mouvement patriotique via l’œuvre “Kinh Đạo Nam” (Les prières du Sud) a expliqué: “M. Nguyên Ngoc Tinh raconte que durant la composition de cette œuvre et sa publication, le chef et le chef adjoint de la commune Hac Châu ont rapporté cela aux autorités supérieures locales. Les Français ont chargé Bui Bang Doan qui était alors chef du district de Xuan Truong d’ouvir une enquête. Bui Dang Doan accompagné de sa femme et de ses serviteurs est venu assister à un Autel du Bien, en y posant une enveloppe pour demander des lettres. Les saints leur ont offert ces vers :
Côn dược thiên trùng thương hải ngoại;
Bằng Đoàn vạn lý tử tiêu gian

que l’on peut traduire par:
Le poisson Con surmonte des milliers de vagues dans le large bleu
L’oiseau Bang parcourt des dizaines de milliers de km dans le haut ciel

Bui Dang Doan s’est étonné de voir son nom figurant dans ces vers qu’il a tant apprécié. Il a ainsi rapporté aux autorités que c’était une activité de croyance, et non une activité politique. Dans une autre enquête qui a confirmé cela, cette œuvre de Nguyên Ngoc Tinh a pu être imprimée et diffusée. En effet, “Les prières du Sud” ont été aussi éditées et diffusées après en écriture nationale “quốc ngữ” (langue nationale) en Cocinchine. Mais en 1929, lors de la répression contre les partis politiques, les colonialistes français ont arrêté Nguyên Ngoc Tinh et confisqué plusieurs exemplaires de cette œuvre ainsi que de planches gravées.
Les Autels du Bien, durant leur existence, ont subi une surveillance permanente de la part des colonialistes français et des autorités féodales. Mais on ne doit pas nier le fait que c’était grâce à cette activité littéraire et de croyance que les poèmes patriotiques ont pu se diffuser dans la population. C’était aussi un lieu de refuge pour les patriotes, afin d’échapper aux poursuites et à la répression.

Les Autels du Bien ou les “Thiện đàn” et les mouvements patriotiques:
Les Autels du Bien organisent souvent des prêches. Les prières sont censées être les paroles offertes par un génie quelquonque. Au début, c’étaient souvent des génies chinois, mais les génies vietnamiens sont devenus de plus en plus présents. Il s’agissait par exemple du génie du Mont Tan Viên, de la princesse Liêu Hanh, de Phùng Khac Khoan, de Tô Hiên Thành, des deux dames Triêu etc.
Au début du 19ème siècle, face aux répressions françaises qui s’intensifiaient, plusieurs autels ont du évacuer les villes pour s’installer en banlieue. L’autel de Van Hiên dans le village de Ha Mô du district de Dan Phuong dont la construction s’est achevée en 1909 était l’un des plus actifs. Il était dédié aussi au culte de Tô Hiên Thanh et aux génies tutelaires du village. Auparavant, en 1907, l’ouvrage “Cổ Kim Truyền Lục” – “Les vieilles et nouvelles histoires” – servant à la propagande patriotique y avait été imprimé. Il est composé de 400 poèmes et d’œuvres en prose, de styles variés écrits en lettres chinoises par des auteurs locaux.
Kinh điển bản tàng Tiên hiền giáng bút thuỳ kinh điển
Cổ kim truyền lục Vãng thánh di thư diệu cổ kim

(Kinh điển bản khắc Tiên hiền giáng bút truyền kinh điển
Cổ kim truyền lục Thánh hiền di cảo sáng cổ kim)
que l’on peut traduire par :
Les livres canoniques conservés ici comprennent les poèmes divins des hommes illustres prédécesseurs qui couvrent toutes les œuvres classiques.
Les prises de note depuis des périodes d’antan sont laissées par
les saints du passé qui éclairent le passé et le présent.

Mais l’autel de Van Hien n’était pas le seul lieu de Ha Mo où se sont déroulées des séances de demande de lettres. La pagode Hai Giac en a organisé. Et “Cổ Kim Truyền Lục” – “Les vieilles et nouvelles histoires” étaient justement un recueil composé après 4 mois de rites. Ce recueil a été imprimé, puis offert à toutes les familles et à plusieurs établissements, pour diffuser la propagande. Le palais de Van Hien servait alors aussi de dispensairee. En Avril 1996, quand je me rendais à Ha Mô pour me documenter, j’ai listé 14 titres de livres au palais Van Hien en écriture sino-vietnamienne, comme: “Thiên ất chân kinh” (Le livre canonique sur les origines de l’univers) (Imprimé – Bao Dai 8 ); “Văn Xương đế quân cứu kiếp bảo sinh kinh” (Le livre canonique pour sauver les vies du saint Van Xuong) (Imprimé – 1911 ); “Ngọc Hoàng chân kinh” (Le livre canonique du Roi des Cieux) (écrit à la main ); “Ngọc Hoàng phổ độ tôn kinh” (Le livre canonique honorable pour sauver les vies du Roi des Cieux) (deux exemplaires imprimés – Bao Dai 8 ); “Liệt thánh bảo cáo” (Les enseignements précieux des saints) (Imprimés); “Ngũ phúc kinh” (Le livre canonique sur 5 bonheurs et vertus) (Imprimé); “Tâm pháp thiết yếu chân kinh” (Le livre canonique indispensable à garder dans la mémoire et à étudier) (Deux exemplaires imprimés – Bao Dai – Année Mau Thin ); “Bảo huấn hợp Thiên” (Le recueil des enseignements précieux) (Imprimé – Tu Duc, Année Bính Tí); “La Tô trung hiếu cáo” (Instructions sur la fidélité et la piété familiale du génie La Tô” (Imprimé – dynastie Thành Thái – Année Ât Ty ); “Kinh Dược Sư” “Sutra du Bhaisajyagurubuddha – Bouddha de Médecine” etc
La province de Ha Tây a été aussi un terrain très propice au développement des Autels du Bien, et donc des œuvres “giáng bút”.

Les Autels du Bien et le processus de renforcement de la culture nationale
L’apport des Autels du Bien a été très important, et ce sur deux aspects: édifier et préserver les beaux traits culturels traditionnels – restaurer et valoriser les vestiges historiques et culturels ou imprimer des livres canoniques.
Préserver les beaux traits culturels de la tradition était comme une exigence de la société vietnamienne à la fin du 19ème siècle et au début du 20ème siècle. C’était d’abord un besoin des citadins. Durant cette période, les colonialistes français ont terminé d’imposer leur domination dans le Nord et le Centre du pays. Les divisions sociales s’aggravaient, et ainsi que le recul des valeurs traditionnelles face à l’agression de la civilisation de l’Occident. Plusieurs chefs lieux de provinces ou de districts poussaient le long des axes routiers de toutes tailles, entraînant un processus d’occidentalisation très fort.
Dans la campagne, c’était la dégradation totale de l’appareil de l’administration féodale. Le tableau rural était rendu encore plus obscur par de multiples fardeaux imposés par le joug féoda-colonialiste sur les épaules des habitants. Dans ce contexte, éveiller le peuple et l’appeler à revenir aux valeurs traditionnelles s’avérait indispensable.
Sont ainsi nés partout les Autels du Bien et leurs contributions au renforcement et à la valorisation de la culture nationale ont été très actives. Les séances d’enseignement étaient programmées et attiraient un public très important. Les habitants ont aussi apporté leur soutien actif à la réparation et à la restauration des vestiges et des témoignages de ce travail sont encore visibles de nos jours sur les stèles érigés dans des temples.

Le temple du Mont du Jade – le siège de l’Association du regard vers le bien – un établissement d’impression et d’archivage de documents et ses contributions au renforcement et à la valorisation de la culture nationale.
Parmi les Autels du Bien, le temple du Mont du Jade est le plus exemplaire. Connu comme le premier autel du bien, le Temple du Mont du Jade était encore le plus grand établissement d’impression et d’archivage de documents. Il était d’ailleurs un pôle qui exercait ses influences très larges sur tout le delta du Bac Bô, et aussi dans tout le Nord Vietnam.
Selon un texte gravé sur une stèle, rédigé par le docteur Vu Tong Phan en 1843, le temple du Mont du Jade a été érigé par l’Association du regard vers le bien en 1842. Il était alors non seulement un lieu de culte, mais aussi un lieu de rendez vous des lettrés.
Les lauréats de concours mandarinaux de bonne rénommée et les lettrés de la capitale qui étaient membres de l’Association ont tous attesté de l’unité de cette association et du renforcement et de la valorisation de la culture nationale comme les objectifs les plus importants. Les lettrés confucéens ont tout fait pour encourager la population à se cultiver et à s’éduquer. Selon eux, il faut que chacun ait un cœur honnête et sache chasser de soi-même les désirs banaux
Le temple du Mont du Jade a été transformé alors en un lieu de prêches où avaient lieu régulièrement tous les 2ème et 16ème jours du mois lunaires les enseignements sur le bien. C’était aussi l’occasion pour organiser des autels pour pratiquer les rites de demande de lettres des génies. La plupart des textes de prières qu’on a pu retrouver jusqu’ici au temple du Mont du Jade sont en écriture chinoise, prenant note des enseigenements sous forme de vers ou d’œuvres en prose donnés par des génies originaires de Chine comme Quan Thanh De Quan, Van Xuong De Quan.
Mais il faut noter que le contenu de ces prières est bien conforme aux principes et objectifs de l’Association du regard vers le bien: conscience de la prévention contre les convoitises (méchancetés, mensonges); piété filiale; respect des personnes importantes; compassion pour les personnes misérables; passion des études et du travail etc. Malgré le fait que ces enseignements soient considérés comme dispensés par les génies, ils ne demandent pas aux êtres humains de fuire les réalités de la vie. Par contre, ils donnent des conseils très positifs. C’était peut etre pour cette raison que les prières censées être des enseignemnts des génies sont diffusées largement dans les localités vietnamiennes jusqu’à la Révolution d’Août de 1945,
L’Association du Regard vers le Bien a fait restaurer le temple du Mont du Jade, construire la Tour du pinceau et la Portique de l’écritoire etc. C’étaient ces travaux de restauration qui ont créé le profil du site du lac de l’Épée restituée qui est conservé jusqu’à aujourd’hui. Les lettrés confucéens membres de l’Association du regard vers le bien ont aussi composé des milliers de vers pour louer la beauté de Hanoï et de ses vestiges.
Pendant environ 100 ans, de 1845 jusqu’à 1945, le temple du Mont du Jade a hébergé un établissement important d’impression et d’archivage de documents. Alors combien de livres ont été imprimés et diffusés dans la société depuis cet établissement ? Récemment, Vuong Thi Huong, en citant les deux livres “Các đẳng kinh bản Ngọc Sơn thiện thư lược sao mục lục – “Table des matières résumant les livres canoniques imprimés par l’Assocition Thuong Thiên du temple du Mont de jade” (A.1116); Cao Vương kinh chú giải – “Les explications des paroles canoniques de Cao Vuong ( AC 438 ), nous a appris que 246 titres de livres en écriture démotique sino-vietnamienne y avaient été imprimés (chaque titre peut comprendre une collection avec plusieurs livres), des différents domaines comme la religion, la littérature, l’histoire, etc (La Revue de l’écriture démotique sino-vietnamienne numéro 1 – 2000 ).

Une autre découverte intéressante est que certains autels ont emprunté des planches gravées servant à l’impression des œuvres “giáng bút” au temple du Mont du Jade pour imprimer et diffuser par eux mêmes ces œuvres.
Donc, le Temple du Mont du Jade a existé durant presque 100 ans en tant qu’une imprimerie importante de tout le delta du Bac Bô. C’était aussi le siège de l’Association du Regard vers le Bien qui a proposé des actions réelles pour renforcer et valoriser la culture nationale. En reconnaissance de ses mérites, l’Oncle Hồ a rendu visite à la fin de 1945 à l’Association du Regard vers le Bien. S’adressant à ses vieux membres, l’Oncle Hồ a apprécié leurs actions d’enseignement à l’intention des habitants, soulignant que le patriotisme et la démocratie constituent les biens les plus grands et que les aggressions et les oppressions sont les maux les plus terribles. Il a conseillé aux membres de l’Association déjà âgés d’encourager les compatriotes vietnamiens à protéger l’indépendance, la liberté, à renforcer la production et à édifier la démocratie. (Selon le journal “Nhân Dân” – “Le Peuple” du 22 Août 1990 )

Les contenus véhiculés par cette forme de littérature spirituelle “giáng bút”:
Les messages véhiculés par œuvres “giáng bút” correspondent bien aux principes directeurs guidant les activités des Autels du Bien. Durant toute la dernière moitié du 19ème siècle et de la première moitié du 20ème siècle, ces œuvres ont porté sur deux thèmes majeurs: appel à l’amour patriotique et renforcement de la culture nationale.

Appel à l’amour patriotique:

C’est un thème majeur de la littérature rituelle “giáng bút” en particulier et de la littérature révolutionnaire en général. Ce thème est traduit sous ces aspects suivants:

– C’étaient des paroles pour enseigner les faits glorieux des héros ou héroines nationaux comme Trân Hung Dao, Pham Ngu Lao, les deux dammes Trung, la dame Trieu, etc.
– C’étaient des paroles censées être des enseignements des génies et fées des légendes vietnamiennes comme le saint Tan Viên, la princesse Liêu Hanh, Tu Dao Hanh .
– C’étaient des paroles censées etre des enseignements des hommes de culture du Vietnam comme Tô Hiên Thành, Nguyên Binh Khiêm, Phùng Khac Khoan etc.
En outre, la littérature spirituelle “giáng bút” rappelle aussi les leçons sur le patriotisme, l’attachement aux origines et à la race vietnamienne pour souligner les hontes d’un peuple privé d’indépendance.

Renforcement et valorisation de la culture nationale et édification d’un nouveau mode de vie
Sur ce point, les œuvres littéraires spirituelles “giáng bút” mettent souvent l’accent sur l’amélioration du niveau d’instruction des habitants, le rejet des coutumes et moeurs arriérés, la valorisation du rôle des femmes (ce sont souvent des paroles des saintes mères adressés aux femmes), et recommandent souvent aux gens de mener une vie honnête, de s’aimer et s’entraider. Les actions d’impression et de publication de livres sur la religion, l’histoire, la littérature et les langues ont été renforcées.

Formes des œuvres littéraires spirituelles “giáng bút”
*Sur le plan de l’écriture:
Les œuvres littéraires spirituelles étaient écrites en caractères sino-vietnamien Nôm – une création des Vietnamiens qui consiste à se servir des caractères chinois pour écrire le vietnamien parlant, ce qui favorise leur lecture par les couches populaires et leur transmission par voie orale. Il faut noter que les pensées folkloriques et la littérature folklorique plus particulièrement ont toujours existé avec une forte vitalité, comme une manière de résistance et de rejet des institutions administratives et culturelles à la confucéenne inspirées de la dynastie Quing en Chine. En effet, les imprimeries se multipliaient durant cette période. Tout en rééditant de vieux ouvrages, elles en éditaient de nouveaux pour répondre aux besoins de la vie spirituelle des habitants. L’œuvre “Pham Công – Cúc Hoa”, à elle seule, a été imprimée à 15 reprises au total dans l’ensemble du pays de 1907 à 1936. Le roman en vers “Kiều” a été réédité à 32 reprises dont 16 à Hanoï.
Sur le plan de l’écriture, il y avait des œuvres écrites en caractères sino-vietnamiens Nôm, et des oeuvres combinant l’écriture chinoise avec l’écriture Nôm. Les œuvres littéraires spirituelle en écriture chinoise étaient très souvent inspirées de saints originaires de Chine ou de confucéens qui s’adressaient surtout à un public élitiste. Les œuvres “giáng bút” en écriture Nôm, par contre, puisaient dans les légendes des saints et génies vietnamiens dont des déesses et s’adressaient aux larges couches de la population. Il est à noter aussi que les œuvres “giáng bút” en écriture Nôm sont plus longues que celles en écriture chinoise. Quant aux genres, les œuvres “giáng bút” en écriture Nôm étaient souvent composées de vers selon les mètres six-huit ou sept-sept-six-huit ou selon d’autres formes.
Pour suivre leurs principes directeurs consistant à atteindre un large public dans tout le pays, les œuvres “giáng bút” ont choisi naturellement l’écriture démotique sino-vietnamienne Nôm.

*Sur le plan des genres:
Comme les œuvres littéraires spirituelles “giáng bút” ciblaient de différents publics, elles ont aussi choisi pour chaque public un genre poétique spécifique.
Dans les œuvres “giáng bút”, on précisait la date, l’heure, voire dans plusieurs cas le destinataire, son pays d’origine. C’est le cas de l’œuvre “Bản thiện kinh” (AB. 355). En fonction de chaque public et de chaque exigence quant à la propagande, on distingue plusieurs genres de poèmes comme Phú – dissertation en prose rythmée; Vers selon les règles six-huit ou sept-sept-six-huit; airs six-huits – xẩm (chantés par les chansonniers aveugles ambulants); ca trù – chants savants; fable; romans, etc.

*Sur le plan des illustrations
Les œuvres littéraires spirituelles “giáng bút” conservés à l’Institut d’études sur l’écriture démotique sino-vietnamienne sont essentiellement ceux imprimés à l’aide de planches de bois gravées. Plusieurs de ces œuvres sont composées aussi de dessins, lesquels pourront tout à fait servir de documents pour une étude approfondie sur les dessins du taoïsme ou sur l’art taoïste plus en général.

Conclusion
98 Autels du Bien, implantés dans la plupart des provinces du Nord à notre connaissance, cela prouve l’action des Associations du Regard vers le Bien et de ses établissements durant la période de 1845 à 1945. Les autels et les Associations du Regard vers le Bien, dont celle du Temple du Mont du Jade connue comme la plus exemplaire, ont eu leurs véritables contributions au renforcement et à la valorisation de la culture nationale.
L’Institut d’études sur l’écriture sino-vietnamienne conserve actuellement 254 ouvrages “giáng bút”. Les œuvres étaient les plus abondantes dans les périodes de 1870 à 1898 et de 1906 à 1911. Leurs contenus correspondaient aux principes directeurs guidant les actions des Autels du Bien. Il s’agissait donc d’un programme de propagande d’envergure depuis la deuxième moitié du 10ème siècle jusqu’au 20ème siècle qui portait sur deux principaux thèmes: Appel au patriotisme et Renforcement et valorisation de la culture nationale.
Les œuvres “giáng bút” en écriture Nôm recourant aux genres variés de poèmes fokloriques étaient de plus en plus abondantes pour traduire les enseignements des génies originaires de la terre vietnamienne. Cela démontre que l’écriture Nôm a conservé un certain rôle vers la deuxième moitié du 19ème siècle, notamment dans le cadre des mouvements patriotiques. En ce qui concerne les Autels du Bien, ils ont utilisé l’écriture Nôm pour appeler au patriotisme, au renforcement et à la valorisation de la culture nationale.
La poésie divine “giáng bút” de la fin du 19ème siècle et du début du 20 ème siècle, sous l’infuence des mouvements patriotiques, a également fait émerger de nouveaux symboles presques inconnus auparavant dans la culture vietnamienne ./.

Ghi chú: bản dịch của L’espace.

Advertisements

Published by

petruspaulusthong

L'enthousiasme seul est la vraie vie (J.F. Champollion)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s